Ce diaporama a bien été signalé.
Nous utilisons votre profil LinkedIn et vos données d’activité pour vous proposer des publicités personnalisées et pertinentes. Vous pouvez changer vos préférences de publicités à tout moment.
i
zz
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
MÔN HỌC QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH
ĐỀ TÀI THU...
ii
MỤC LỤC
1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO ............................................. 1
1.1. Khái niệm chung ...
iii
3. VALUE AT RISK (VaR) ........................................................................................45
3.1....
iv
4.4. Khủng hoảng: Thất bại trong mô hình hay thất bại trong quản trị?
....................................................
v
1
1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO
1.1. Khái niệm chung về rủi ro
1.1.1. Rủi ro (risk) và Bất trắc (uncertainty)
...
2
1.1.2 So sánh Rủi ro (Risk) và Bất trắc (Uncertainty)
 Giống : Là những tình huống có nhiều biến cố xảy ra
 Khác :
Rủi...
3
Trong trường hợp khác, khả năng mắc các chứng bệnh là bất định chứ
không phải rủi ro, ta có thể làm tăng hoặc giảm khả n...
4
nếu không chủ động can thiệp chúng ta cũng sẽ chỉ phó mặc cho rủi ro xảy ra,
và nhiều khi cũng sẽ làm cho kết quả xấu hơ...
5
định hạn chế này thường được coi là chấp nhận được. Đối với giới hạn thời gian
dài hơn, nhiều giao dịch trong danh mục đ...
6
Đây là loại rủi ro mà người nắm giữ công cụ phái sinh phải gánh chịu khi tỉ
giá hối đoái thay đổi bất lợi làm ảnh hưởng ...
7
giản cho thấy rằng nhà kinh doanh có thể nhận một mức lãi suất thấp hơn bằng
cách phát hành nợ có lãi suất thả nổi và th...
8
ro tín dụng. Vì không bao giờ công ty thanh toán bù trừ vỡ nợ nên các hợp
đồng này được xem như không co rủi ro tín dụng...
9
các nhà giao dịch hoán đổi sẽ bị vỡ nợ, để lại khoản vay lãi suất thả nổi LIBOR.
Và rủi ro tín dụng xuất phát từ đây.
Đố...
10
tín dụng không phù hợp với nền kinh tế và thể lệ cho vay còn sơ hở để khách
hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của ngân hàng,...
11
lượng tín dụng của các đối tác tham gia, các điều khoản của hợp đồng và kiểu
cấu trúc kỳ hạn. Ví dụ chúng ta hãy xem mộ...
12
- Rủi ro trong hoạt động bảo lãnh: khi ngân hàng chấp nhận phát hành bảo
lãnh cho khách hàng cũng có nghĩa là ngân hàng...
13
ro nghiệp vụ.
+ Rủi ro lựa chọn : Trước khi ngân hàng quyết định cho vay thì phải lựa
chọn đánh giá xem phương án vay v...
14
Rủi ro hoạt động là rủi ro do thất bại trong hoạt động các giao dịch phái
sinh hoặc hệ thống quản trị rủi ro.
1.2.3.2 N...
15
có ủy quyền. Một cá nhân trong một công ty nếu thực hiện một giao dịch không
thích hợp hoặc giao dịch này đặt công ty v...
16
bản chất rủi ro hoạt động. Khi công ty bảo hiểm chống lại sự gian lận của công
nhân, đây chính là một loại rủi ro hoạt ...
17
hoảng tài chính toàn cầu mà các thị trường khắp nơi trên thế giới cùng bị sụp
đổ đồng loạt. LCTM đã gánh chịu các tổn t...
18
Rủi ro pháp lý là rủi ro mà hệ thống pháp luật sẽ không còn bảo đảm thực
hiện được hợp đồng. ví dụ, giả sử một nhà giao...
19
Lý do chính để tiến hành quản trị rủi ro là những quan ngại có liên quan
đến độ bất ổn của lãi suất, tỷ giá, giá cả hàn...
20
họ có thể dễ dàng điều chỉnh lại các danh mục đầu tư của họ bằng cách thay thế
các chứng khoán rủi ro cao bằng chứng kh...
21
- Vốn cấp 1 (vốn cơ bản): Vốn loại 1 bao gồm lượng vốn dự trữ sẵn có và
các nguồn dự phòng được công bố, như là khoản d...
22
- Thiếu vốn: CAR < 8%
- Thiếu vốn rõ rệt: CAR < 6%
- Thiếu vốn trầm trọng: CAR < 2%
Chúng ta hãy xem xét các bước tính ...
23
Trái phiếu Chính phủ 0% 8% 1.000 USD 0 USD 0 USD
Trái phiếu đô thị 20% 8% 1.000 USD 200 USD 16 USD
Thế chấp nhà ở 50% 8...
24
rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp (Cột trụ 1). Theo đó, cách tính chi phí vốn
đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổ...
25
CAR = (Vốn cấp I + Vốn cấp II + Vốn cấp III)/RWA
Cách tiếp cận IRB – các loại mức độ nhạy cảm
Cách tiếp cận dựa trên ph...
26
- Trọng số rủi ro dựa vào phân loại tín dụng bên ngoài (nếu có).
- Gia tăng độ nhạy cảm về rủi ro.
- Hướng tới các ngân...
27
c. Nguyên tắc thứ ba: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách
thích đáng theo nguyên tắc thị trường (Cột tr...
28
tốt hơn đồng nghĩa với việc khả năng bù đắp các khoản lỗ tốt hơn, điều này
giúp cho ngân hàng “khỏe” hơn, do đó có khả ...
29
dụng nóng, nguy cơ dẫn đến rủi ro cao trong hoạt động tín dụng một cách
có hệ thống
Thứ ba, giới thiệu phương pháp giám...
30
thực hiện đầy đủ vào ngày 1/1/2019. Bảng sau sẽ cho thấy lộ trình cụ thể của
việc thực thi hiệp ước Basel 3: (xem bảng)...
31
1.5.4. Khả năng tuân thủ các quy định về quản trị rủi ro ở Việt Nam
Hiện nay, khi các ngân hàng trên thế giới đã đề cập...
32
tế trên cơ sở loại trừ các khoản vốn không đủ tiêu chuẩn và có biện pháp xử lý
theo lộ trình của Basel 3 để đảm bảo sự ...
33
2.2. Lý thuyết danh mục đầu tư
Một cách khác để đo lường rủi ro là lý thuyết danh mục đầu tư. Lý thuyết
danh mục đầu tư...
34
2.3. Phương thức Gap
Một cách thông thường là (và vẫn phổ biến ở ngày nay) là phân tích
khoảng trống (gap analysis), đư...
35
bởi vì nó đưa ra một chỉ dẫn xấp xỉ của sự biến động giá trái phiếu đối với sự
thay đổi trong cổ tức.
% thay đổi trong ...
36
giao ngay. Nếu ta lập một danh mục với các vị thế khác nhau của các chứng
khoán phái sinh cũng như tài sản sao cho delt...
37
cụ thể và thực tế hơn. Một người thực hiện phòng ngừa bằng cách thực hiện vị
thế hoán đổi lãi suất 4 năm (vốn 10 triệu ...
38
Công cụ phái sinh
Hoán đổi 4 năm
LS cố định 0,1185
Quyền chọn mua 3
năm
LS thực hiện 0,12
Thay đổi trong LIBOR + 0,0001...
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính   đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường
Prochain SlideShare
Chargement dans…5
×

Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường

1 578 vues

Publié le

Giá 10k, liên hệ page để mua tài liệu www.facebook.com/garmentspace
Giá 10k, liên hệ page để mua tài liệu www.facebook.com/garmentspace
Giá 10k, liên hệ page để mua tài liệu www.facebook.com/garmentspace
Giá 10k, liên hệ page để mua tài liệu www.facebook.com/garmentspace Giá 10k, liên hệ page để mua tài liệu www.facebook.com/garmentspace
Giá 10k, liên hệ page để mua tài liệu www.facebook.com/garmentspace Giá 10k, liên hệ page để mua tài liệu www.facebook.com/garmentspace
Giá 10k, liên hệ page để mua tài liệu www.facebook.com/garmentspace Giá 10k, liên hệ page để mua tài liệu www.facebook.com/garmentspace
Giá 10k, liên hệ page để mua tài liệu www.facebook.com/garmentspace Giá 10k, liên hệ page để mua tài liệu www.facebook.com/garmentspace
Giá 10k, liên hệ page để mua tài liệu www.facebook.com/garmentspace Giá 10k, liên hệ page để mua tài liệu www.facebook.com/garmentspace
Giá 10k, liên hệ page để mua tài liệu www.facebook.com/garmentspace

Publié dans : Formation

Bài tập môn quản trị rủi ro tài chính đề tài value at rist và quản trị rủi ro thị trường

  1. 1. i zz TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP MÔN HỌC QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH: VALUE AT RISK VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO THỊ TRƯỜNG Giảngviênhưỡngdẫn:TS.NguyễnThị Ngọc Trang Các nhómgiảngđườngTC IV K34 Năm Học 2011
  2. 2. ii MỤC LỤC 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO ............................................. 1 1.1. Khái niệm chung về rủi ro................................................................................ 1 1.1.1. Rủi ro (risk) và Bất trắc (uncertainty).......................................................................1 1.1.2 So sánh Rủi ro (Risk) và Bất trắc (Uncertainty).................................................2 1.1.3. Vậy từ “Risk Management” có thật sự đúng?........................................................2 1.2. Phân loại rủi ro.................................................................................................... 4 1.2.1. Rủi ro thị trường .........................................................................................................................4 1.2.2 Rủi ro tín dụng ..............................................................................................................................6 1.2.3 Rủi ro hoạt động .......................................................................................................................13 1.2.4 Rủi ro thanh khoản.................................................................................................................16 1.2.5 Rủi ro thanh toán.....................................................................................................................17 1.2.6 Rủi ro kế toán..............................................................................................................................17 1.2.7 Rủi ro pháp lý..............................................................................................................................17 1.3. Quản trị rủi ro là gì? .........................................................................................18 1.4. Tại sao cần quản trị rủi ro ?...........................................................................18 1.5. Các quy định về quản trị rủi ro (basel)......................................................20 1.5.1. Basel 1...............................................................................................................................................20 1.5.2 Basel II..............................................................................................................................................23 1.5.3. Basel III :.........................................................................................................................................27 1.5.4. Khả năng tuân thủ các quy định về quản trị rủi ro ở Việt Nam...........31 2. CÁC CÔNG CỤ QUẢN TRỊ RỦI RO THỊ TRƯỜNG TRƯỚC VAR..............32 2.1. Phân tích kịch bản...................................................................................32 2.2. Lý thuyết danh mục đầu tư ..................................................................33 2.3. Phương thức Gap ....................................................................................34 2.4. Phân tích thời kỳ .....................................................................................34 2.5. Phòng ngừa Delta ....................................................................................35 2.6. Phòng ngừa Gamma ...............................................................................39 2.7. Phòng ngừa Vega .....................................................................................42
  3. 3. iii 3. VALUE AT RISK (VaR) ........................................................................................45 3.1. Khái niệm........................................................................................................45 3.2. Sự phát triển của VaR trong quản trị rủi ro:.......................................46 3.2.1. Khái quát về sự phát triển của các phương pháp phân tích & quản trị rủi ro:..........................................................................................................................................46 3.2.2. Sự phát triển của thực nghiệm Value at Risk.....................................................47 3.3. Đặc điểm..........................................................................................................48 3.4. Các thông số ảnh hưởng đến VaR:..........................................................49 3.4.1. Độ tin cậy:......................................................................................................................................49 3.4.2. Khoảng thời gian đo lường VaR:..................................................................................50 3.4.3. Sự phân bố lời/lỗ trong khoảng thời gian xác định VaR:.........................51 3.5. Các phương pháp tiếp cận VaR truyền thống.....................................53 3.5.1. Phương pháp phân tích.......................................................................................................53 3.5.2. Phương pháp mô phổng lịch sử ...................................................................................55 3.5.3. Phương pháp monte carlo................................................................................................56 3.5.4. So sánh ba phương pháp tiếp cận VaR truyền thống ..................................57 3.6. Phương pháp tiếp cận VaR mở rộng .....................................................59 3.6.1. Giới thiệu về phương pháp...............................................................................................59 3.6.2. Ý tưởng phát triển về mô hình VaR mở rộng.....................................................61 3.6.3. Vận dụng mô hình VaR mở rộng để ước lượng VaR cho danh mục.63 4. KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI 2007-2008 VÀ NHỮNG TRANH LUẬN VỀ VAR ........................................................................................................87 4.1. Sự lung lay của VaR trong quản trị rủi ro ............................................87 4.2. Những thiệt hại VaR không thể đo lường – Rủi ro đuôi hay “Thiên nga đen”...........................................................................................................91 4.3. Những sai số của VaR ngay cả trong những thiệt hại mà nó chủ đích đo lường ................................................................................................94 4.3.1. Đâu là một phân phối xác suất thích hợp?...........................................................95 4.3.2. Rủi ro lựa chọn mô hình.....................................................................................................97 4.3.3. Xác định dữ liệu đầu vào thích hợp........................................................................100
  4. 4. iv 4.4. Khủng hoảng: Thất bại trong mô hình hay thất bại trong quản trị? ......................................................................................................................... 106 4.4.1. Vấn đề từ sự đơn giản .......................................................................................................106 4.4.2. Lợi nhuận hay sự an toàn?.............................................................................................109 4.4.3. Các quy định và rủi ro đạo đức ..................................................................................112 4.5. Một công cụ sẽ trở nên hữu dụng nếu được sử dụng đúng cách. ......................................................................................................................... 115 5. BACK-TESTING.................................................................................................. 119 5.1. Khái niệm chung về back-test:.............................................................. 119 5.2. Phương pháp ứng dụng back-test:...................................................... 122 5.2.1. Backtesting đơn giản: Ước lượng VaR hay P/L:...........................................122 5.2.2. Thống kê backtest dựa vào tần suất của Tail-losses:................................122 5.2.3. Backtest thống kê dựa vào kích cỡ của tail-losses:....................................135 5.3. Các kịch bản Back-test với sự thay đổi độ tin cậy, vị thế và dữ liệu: ................................................................................................................ 137 6. STRESS–TESTING.............................................................................................. 141 6.1. Những vấn đề cơ bản: ..................................................................................... 141 6.1.1. Khái niệm:.........................................................................................................................................141 6.1.2. Tại sao lại thực hiện stress testing:...............................................................................142 6.2. Phân tích kịch bản: .......................................................................................... 144 6.3. Những lợi ích và khó khăn của Stress Testing: ...................................... 156 6.3.1. Lợi ích của Stress Testing...............................................................................................156 6.3.2. Những khó khăn của Stress Testing.......................................................................159 TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................. 162
  5. 5. v
  6. 6. 1 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO 1.1. Khái niệm chung về rủi ro 1.1.1. Rủi ro (risk) và Bất trắc (uncertainty) “Không phải tất cả bất trắc đều có thể đo lường, bất trắc có thể đo lường, hay là rủi ro, là tập hợp con của bất trắc. Hay theo cách nói khác, các công thức toán học có thể được áp dụng để bất trắc có thể chuyển thành rủi ro. Vì thế, bất trắc là một khái niệm chung hơn, mọi rủi ro đều liên quan đến bất trắc, nhưng không phải mọi bất trắc đều là rủi ro bởi vì không phải mọi bất trắc đều có thể đo lường, và một lần nữa, các công thức toán học không thể được áp dụng.” Định nghĩa về rủi ro là một bất trắc có thể đo lường là phát biểu của Frank Knight, người đã phát triển nó vào giữa đầu thế kỉ 20. Trong cuộc sống chúng ta đối diện với nhiều tình huống mà không thể biết được chuyện gì tốt xấu sẽ xảy ra. Những tình huống như vậy có người gọi là rủi ro có người cho là bất trắc. Tuy nhiên, hai khái niệm này không hoàn toàn giống nhau, hiểu được sự khác biệt này sẽ giúp chúng ta có cách hành xử hợp lý hơn. Rủi ro (risk) là những tình huống có nhiều biến cố có thể xảy ra và ta biết xác suất xuất hiện và kết quả của các biến cố này. Ví dụ như thảy xí ngầu, nếu viên xí ngầu này chất lượng tốt, người thảy xí ngầu không gian lận thì ta biết chắc chắn rằng có 6 khả năng xảy ra và xác suất của mỗi biến cố là 1/6. Trong trường hợp này không thể làm gì để thay đổi xác suất cũng như giá trị của biến cố. Bất trắc (Uncertainty) là tình huống ta không biết chắc chắn chuyện gì xảy ra cũng như khả năng xảy ra những biến cố này. Người ta không thể chỉ định rõ chuyện gì sẽ xảy ra, khả năng chắc chắn là bao nhiêu phần trăm. Doanh nhân khi đầu tư thì không chắc rằng dự án sẽ thành công hay thất bại hoàn toàn, nhưng anh tin rằng với nỗ lực của mình, có thể làm cho khả năng thành công cao hơn. Mỗi lần đi thi, mặc dù không biết chắc chắn đề thi là gì, nhưng nếu có sự chuẩn bị tốt, thì khả năng đạt kết quả cao là rất khả quan.
  7. 7. 2 1.1.2 So sánh Rủi ro (Risk) và Bất trắc (Uncertainty)  Giống : Là những tình huống có nhiều biến cố xảy ra  Khác : Rủi ro Bất trắc Biết xác suất xuất hiện của biến cố Không biết khả năng xảy ra của biến cố Biết kết quả của các biến cố Không biết chắc chắn chuyện gì xảy ra Không có khả năng tác động làm thay đổi Có khả năng tác động làm thay đổi 1.1.3. Vậy từ “Risk Management” có thật sự đúng? Khi đề cập đến “Risk” chúng ta không thể tác động làm thay đổi xác suất xảy ra, vậy phải chăng từ đúng phải là “Uncertaity Management” Vậy thì phân biệt rủi ro và bất trắc để làm gì? Chúng ta thường đối diện với bất trắc hơn là rủi ro. Những trường hợp rủi ro thường thấy là đánh bài cào, thẩy xí ngầu, mua vé số... Những trường hợp này người tham gia không thể làm gì được để kết quả tốt hơn. Những gì xảy ra trong thực tế chủ yếu là bất trắc, chúng ta không biết tất cả các khả năng có thể xảy ra cũng như xác suất xuất hiện của những khả năng này. Điều chúng ta thấy là có những biến cố xảy ra nhiều hơn, và đặc biệt là chúng ta có thể tác động để thay đổi xác suất xuất hiện cũng như kết quả của biến cố. Có một điều là đôi khi chúng ta lại nghĩ rằng đó là những tình huống rủi ro. Một nhà đầu tư mua cổ phiếu mà không thể tác động gì diễn biến giá cổ phiếu trên thị trường thì anh ta đang đối diện với rủi ro và giống như đánh bạc. Nhưng nếu những nhà đầu tư này hoạt động tích cực, anh ta có thể làm tăng khả năng thành công của việc đầu tư của mình.
  8. 8. 3 Trong trường hợp khác, khả năng mắc các chứng bệnh là bất định chứ không phải rủi ro, ta có thể làm tăng hoặc giảm khả năng bệnh xảy ra bằng lối sống, bằng cách ăn uống và sinh hoạt. Chúng ta có thể tác động để làm giảm thiệt hại của những sự kiện này. Đó chính là ý nghĩa của việc xem tương lai là rủi ro hay bất định. Sự khác biệt giữa rủi ro và bất định là khả năng chúng ta có thể tác động để thay đổi xác suất xảy ra các biến cố và kết quả của biến cố. Nếu chúng ta không làm gì cả thì đó là rủi ro, còn nếu chúng ta có thể tham gia làm hạn chế thiệt hại và tăng những lợi ích thì đó là bất trắc. Bảo hiểm là mua rủi ro hay bất trắc? Với những gì mà các công ty bảo hiểm đang làm chủ yếu họ xem là rủi ro vì họ không thực hiện bất cứ việc gì để nhằm giảm những khả năng xảy ra thiệt hại cho thân chủ. Họ xem từng cá nhân có những xác suất xảy ra thiệt hại và đánh bạc trên những sự kiện này. Những người mua bảo hiểm có thể vì yên tâm với những tài sản được bảo hiểm nên họ bất cẩn hơn, vì thế có thể làm tăng xác suất xảy ra thiệt hại (Moral hazard). Tại sao các công ty bảo hiểm không tham gia làm giảm xác suất thiệt hại cho khách hàng? Thứ nhất làm như thế tốn chi phí, thứ 2, những hành động giảm thiểu rủi ro cho khách hàng là hàng hoá công cộng, sẽ có những người hưởng ké (free- rider), thứ 3 nếu xác suất thiệt hại giảm người ta sẽ không mua bảo hiểm. Khi chạy mô phỏng trong phân tích rủi ro, người ta gán các phân phối xác suất cho các biến đầu vào để xem kết quả thay đổi như thế nào. Đây là cách chúng ta chuyển bài toán bất trắc thành bài toán rủi ro. Tuy nhiên cách làm này chỉ là giả định để mô hình toán có thể thực hiện được, trong thực tế khó có thể xác định được các giá trị và xác suất một cách rõ ràng. Dù sao đi nữa, bằng cách làm này ta có thể hiểu được những khả năng và phạm vi xảy ra kết quả từ đó ra quyết định tốt hơn. Nói tóm lại, những giải thích ở trên chủ đích muốn nói lên một điều: Tương lai sẽ là bất trắc chứ không phải rủi ro. Nếu đã là bất trắc thì chúng ta có thể tác động tích cực nhằm làm giảm xác suất thiệt hại (tăng xác suấtthành công), tạo ra nhiều biến cố tốt hơn và làm tăng giá trị cho tương lai. Ngược lại
  9. 9. 4 nếu không chủ động can thiệp chúng ta cũng sẽ chỉ phó mặc cho rủi ro xảy ra, và nhiều khi cũng sẽ làm cho kết quả xấu hơn. 1.2. Phân loại rủi ro 1.2.1. Rủi ro thị trường 1.2.1.1 Khái niệm Rủi ro thị trường là sự không chắc chắn trong giá trị của công ty hoặc dòng tiền liên quan với các biến động của các nguồn gốc cơ sở của rủi ro. Hay rủi ro thị trường là rủi ro mà giá trị của việc đầu tư sẽ giảm do sự thay đổi trong các yếu tố thị trường như lãi suất, tỉ giá hoặc là giá hàng hóa. Đối với thị trường chứng khoán, rủi ro thị trường xuất hiện do phản ứng của các NĐT đối với các hiện tượng trên thị trường. Những sự sụt giảm đầu tiên trên thị trường là nguyên nhân gây sợ hãi đối với các NĐT và họ sẽ cố gắng rút vốn, tạo phản ứng dây chuyền, khiến giá cả chứng khoán rơi xuống thấp so với giá trị cơ sở. Nhắc đến rủi ro thị trường, ta thường bắt gặp khái niệm độ bất ổn. Độ bất ổn thường xuyên đề cập đến độ lệch chuẩn của sự thay đổi trong giá trị của một công cụ tài chính với một giới hạn thời gian cụ thể. Nó thường được dùng để định lượng rủi ro của các công cụ trong 1 khoảng thời gian nhất định. Độ bất ổn thường được thể hiện trong thời kỳ năm, và nó, hoặc có thể là một số tuyệt đối ($ 5) hoặc 1 giá trị tương đối (5%). 1.2.1.2 Tính toán Rủi ro thị trường thường được đo lường bằng cách sử dụng phương pháp giá trị có rủi ro (VaR) . Giá trị có rủi ro được tạo thành như là một kỹ thuật quản lý rủi ro, nó chứa một số giả định hạn chế tính chính xác của nó. Giả định đầu tiên là các thành phần của danh mục đầu tư được đo lường vẫn không thay đổi trong giai đoạn duy nhất của mô hình. Đối với giới hạn thời gian ngắn, giả
  10. 10. 5 định hạn chế này thường được coi là chấp nhận được. Đối với giới hạn thời gian dài hơn, nhiều giao dịch trong danh mục đầu tư có thể đáo hạn trong giai đoạn mô hình hóa. Can thiệp dòng chảy tiền mặt, thay đổi về lãi suất thả nổi,… được bỏ qua trong kỹ thuật mô hình hóa duy nhất. Rủi ro thị trường cũng có thể đối lập với rủi ro riêng – rủi ro đo lường của việc suy giảm trong đầu tư do sự thay đổi trong một ngành công nghiệp hoặc một khu vực cụ thể. Giá trị có rủi ro VaR sẽ được phân tích kỹ hơn trong phần sau. 1.2.1.3 Phân loại Ba yếu tố rủi ro thị trường bao gồm: a. Rủi ro lãi suất: là rủi ro lãi suất sẽ thay đổi Đây là rủi ro mà hấu hết các nhà đầu tư quan tâm nhất. Rủi ro lãi suất là một trong những rủi ro hệ thống, hay còn gọi là rủi ro không phân tán được khi đầu tư vào các công cụ phái sinh. Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường và số tiền thu nhập trong tương của các tài sản tài chính, nguyên nhân là do dao động trong mức lãi suất chung. Rủi ro lãi suất bao gồm rủi ro lãi suất ngắn hạn và rủi ro lãi suất dài hạn. Trong rủi ro lãi suất ngắn hạn, có rủi ro do thay đổi lãi suất LIBOR, rủi ro do thay đổi lãi suất T – bill, rủi ro do thay đổi lãi suất các thương phiếu và nhiều rủi ro khác có liên quan với từng mức lãi suất cụ thể. Ví dụ, nếu như nhà quản trị rủi ro đang ở trong vị thế nắm giữ các công cụ phái sinh dựa trên những thay đổi trong mức lãi suất LIBOR và các công cụ phái sinh dựa trên những thay đổi trong lãi suất của thương phiếu, họ phải tập trung phân tích đến mối tương quan giữa các mức lãi suất này. Một vị thế mua LIBOR và bán thương phiếu sẽ có khả năng phòng ngừa được phần nào rủi ro, do lãi suất LIBOR có mối tương quan xác định với lãi suất thương phiếu. Như vậy, bạn sẽ phải tiến hành xem xét toàn bộ hiệu quả của tất cả các cội nguồn của rủi ro mà công ty sẽ phải đối phó. b. Rủi ro tiền tệ: là rủi ro tỉ giá hối đoái sẽ thay đổi
  11. 11. 6 Đây là loại rủi ro mà người nắm giữ công cụ phái sinh phải gánh chịu khi tỉ giá hối đoái thay đổi bất lợi làm ảnh hưởng tới giá trị của các tài sản tài chính. Giả sử một doanh nghiệp vay một khoản vay 1 triệu $ trả chậm 1 năm, như vậy số tiền VND doanh nghiệp phải bỏ ra vào thời điểm 1 năm sau phụ thuộc vào tỉ giá hối đoái lúc đó. Để đề phòng sự lên giá của ngoại tệ, doanh nghiệp đã mua một hợp đồng kỳ hạn 1 năm, giá mua kỳ hạn $là 20.500VNĐ. Rủi ro ở đây mà doanh nghiệp phải gánh chịu là doanh nghiệp không thể dự đoán chính xác được tỉ giá biến động như thế nào. Điều này có nghĩa là nếu tỉ giá hối đoái biến động ngược với suy đoán ban đầu, doanh nghiệp sẽ thiệt hại trên giao dịch phái sinh này. c. Rủi ro hàng hóa: là rủi ro mà giá cả hàng hóa sẽ thay đổi bất lợi Ví dụ, một người bỏ ra một khoản phí để mua một quyền chọn mua, tức là người này đang phòng ngừa rủi ro giá tài sản sẽ tăng. Trường hợp đến thời kỳ đáo hạn, giá tài sản giảm, như vậy người này đã phải chịu rủi ro do giá giao ngay thay đổi không cùng chiều với giá giao sau. Đây là rủi ro mà các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu rất quan tâm, nếu loại bỏ các doanh nghiệp không có hoạt động xuất nhập khẩu, thì trong nhóm các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh liên quan đến xuất khẩu, yếu tố rủi ro tài chính xuất phát từ giá cả nguyên liệu lại là yếu tố quan trọng nhất Như vậy, các hiệu quả từ những biến động của tất cả nguồn gốc dẫn đến rủi ro của tài sản cơ sở sẽ cho ta thấy được những thay đổi trong vị thế của các công cụ phái sinh và tài sản giao ngay. 1.2.2 Rủi ro tín dụng 1.2.2.1 Khái niệm: Một công ty có thể đi vay với lãi suất cố định 10,5% hoặc lãi suất thả nổi LIBOR cộng 1,1% (110 điểm cơ bản). Công ty có thể thực hiện một hoán đổi thanh toán lãi suất cố định 9,25% và nhận lãi suất LIBOR. Những con số đơn
  12. 12. 7 giản cho thấy rằng nhà kinh doanh có thể nhận một mức lãi suất thấp hơn bằng cách phát hành nợ có lãi suất thả nổi và thực hiện một hoán đổi thanh toán lãi suất cố định nhận lãi suất thả nổi. Hiệu ứng ròng là thanh toán lãi lãi suất LIBOR cộng 1,1% (110 điểm cơ bản) trên khoản nợ có lãi suất thả nổi, nhận LIBOR và thanh toán 9,25 trên hoán đổi cộng vào trong lãi suất cố định 9,25 + 1,1 = 10,35 hoặc là 15 điểm cơ bản thấp hơn so với lãi suất cố định. Tuy nhiên, nếu công ty chỉ đơn giản phát hành nợ lãi suất cố định ở mức 10,5% họ phải được xem như là không có rủi ro tín dụng. Nếu công ty vay với lãi suất cố định thì giả định rằng không có rủi ro tín dụng. Người cho vay không thể vỡ nợ. Nếu vay với lãi suất thả nổi và hoán đổi nó sang khoản vay lãi suất cố định, sẽ có rủi ro là các nhà giao dịch hoán đổi sẽ bị vỡ nợ, để lại khoản vay lãi suất thả nổi LIBOR.Bây giờ giả định rằng rủi ro tín dụng của đối tác tham gia hoán đổi và được bù trừ với số điểm là 15 điểm cơ bản giảm trong lãi suất. Việc hoán đổi này có giá trị hay không? Trong các ngày đầu của thị trường, các khoản tiết kiệm có lẽ dủ lớn để có giá trị nhưng khi thị trường trở nên hiệu quả hơn thì các khoản tiết kiệm giảm và có khả năng bằng với khoản bù trừ đối với giả định của rủi ro tín dụng. Mặc dù vậy, rủi ro tín dụng có thể có giá trị để chi phí vay thấp hơn. Rủi ro vỡ nợ sẽ là rủi ro tiềm ẩn cho bất cứ bên nào sẽ nhận thanh toán từ một bên khác. Rủi ro này, gọi là rủi ro tín dụng hoặc là rủi ro vỡ nợ là rủi ro bất cứ người cho vay nào cũng phải gánh chịu. Và loại rủi ro này đã được nhắc đến nhìu lần trong các công cụ phái sinh cũng như trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Chúng ta đã biết vì vốn khái toán của các công cụ phái sinh không có rủi ro nên rủi ro tín dụng các các công cụ phái sinh thấp hơn nhìu so với rủi ro tín dụng của các khoản cho vay.Những người sử dụng cuối cùng không phải là ngân hàng thường không cho vay nhưng khi họ tham gia vào một hoán đổi thì họ đã trở thành các nhà tín dụng Rủi ro tín dụng được đề cập đến khi chứng ta thảo luận về các công cụ trên thị trường OTC. Hợp đồng giao sau và các quyền chọn được niêm yết trên các sàn giao dịch đều được công ty thanh toán bù trừ bảo đảm nên không bị rủi
  13. 13. 8 ro tín dụng. Vì không bao giờ công ty thanh toán bù trừ vỡ nợ nên các hợp đồng này được xem như không co rủi ro tín dụng. Các hợp đồng OTC gánh chịu rủi ro tín dụng cao hay thấp tùy thuộc vào các bên tham gia, tùy thuộc vào loại hợp đồng và tùy thuộc vào thời điểm của hợp đồng . Vậy, Rủi ro tín dụng là gì? Rủi ro tín dụng là tính không chắc chắn và tiềm ẩn về khoản lỗ do không có khả năng thanh toán của bên đối tác. Rủi ro tín dụng là một hiện tượng thường gặp ở bất kì một ngân hàng thương mại nào, nó cũng xảy ra trên mọi đối tượng, lĩnh vực, vùng đầu tư: Quốc doanh, hợp tác xã, hộ sản xuất, cho vay sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, cho vay khu vực nông thôn, thành thị… Rủi ro tín dụng xảy ra có thể do nguyên nhân chủ quan về phía ngân hàng thương mại, khách hàng vay vốn nhưng cũng có thể do nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, dịch hoạ… Rủi ro tín dụng là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổnthất về tài chính và khó khăntrong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Trong thị trường trái phiếu, rủi ro tín dụng được đánh giá bằng cách khảo sát xếp hạng tín nhiệm của các đơn vị phát hành trái phiếu. Hiện nay có nhiều công ty xếp hạng tín nhiệm trên thế giới, trong đó uy tín nhất phải kể đến là Standard & Poor, Moody và Fitch. Mặc dù mỗi công ty sử dụng nhãn hiệu riêng như “ba A” “B hai A” với ý nghĩa càng nhiều A càng tốt. Bạn sẽ thấy các xếp hạng từ AAA, AA, BAA, BBB, BB, B… cho đến D. Các nhà phân tích các công ty phát hành trái phiếu này căn cứ vào xếp hạng tín nhiệm trên các yếu tố khác nhau chủ yếu là các yếu tố như tình trạng tài chính của nhà phát hành, tình trạng nền kinh tế và công nghệ của nhà phát hành. 1.2.2.2 Nguyên nhân hình thành rủi ro tín dụng: Trở lại ví dụ trên về hoán đổi lãi suất đã nói đến ở trên công ty đó vay với lãi suất thả nổi và hoán đổi nó sang khoản vay lãi suất cố định, sẽ có rủi ro là
  14. 14. 9 các nhà giao dịch hoán đổi sẽ bị vỡ nợ, để lại khoản vay lãi suất thả nổi LIBOR. Và rủi ro tín dụng xuất phát từ đây. Đối với ngân hàng thì hoạt động tín dụng là hoạt động luôn tiềm ẩn những rủi ro mà không một nhà kinh doanh tài ba nào có thể dự đoán chính xác được mức độ thiệt hại của nó. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng (nhà giao dịch hoán đổi sẽ bị vỡ nợ) a. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định: Một dẫn chứng như là: Nền kinh tế VN vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công,… vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu. Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế: Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành: Nền kinh tế thị trường thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan. Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi : Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương. Thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN. Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập b. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan Nguyên nhân xuất phát từ chính ngân hàng: Ngân hàng đưa ra chính sách
  15. 15. 10 tín dụng không phù hợp với nền kinh tế và thể lệ cho vay còn sơ hở để khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn của ngân hàng, còn lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng. Ngân hàng đôi khi quá chú trọng về lợi nhuận, đặt những khoản vay có lợi nhuận cao hơn những khoản vay lành mạnh. Nguyên nhân từ phía khách hàng Nhiều doanh nghiệp sử dụng không đúng mục đích đăng ký ban đầu trong hồ sơ xin vay vốn Nhiều doanh nghiệp không đánh giá hết được những rủi ro khi sử dụng đồng vốn, đánh giá chi phí vốn cũng như khả năng sinh lợi của đồng vốn Do chính bản thân doanh nghiệp chủ ý muốn lừa đảo nhằm chiếm dụng vốn của ngân hàng.… 1.2.2.3 Phân loại: a. Rủi ro tín dụng của các công cụ phái sinh: bao gồm 2 loại: Rủi ro tín dụng hiện hành và rủi ro tín dụng tiềm ẩn Rủi ro tín dụng hiện hành (current credit risk): là rủi ro đối với một bên đối tác khi bên kia không có khả năng thanh toán trong hiện tại. Chỉ có một bên đối tác trong giao dịch phái sinh phải gánh chịu rủi ro này, đó là bên đối tác nắm giữ hợp đồng với tư cách là một tài sản của mình Rủi ro tín dụng tiềm ẩn: (potential credit risk) là rủi ro mà mỗi bên tham gia sẽ vỡ nợ vào bất cứ lúc nào trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng Cả hai loại rủi ro tín dụng hiện hành và rủi ro tín dụng tiềm ẩn của quyền chọn trên thị trường OTC đều chỉ do người mua gánh chịu mà thôi. Vì người mua trả phí cho người bán và không phải làm bất cứ điều gì, còn người bán thì không gánh chịu rủi ro tín dụng. Mặc dù vậy, rốt cuộc là người mua có thể quyết định thực hiện quyền chọn, chính vào lúc đó, người bán có thể bị phá sản. FRA và hoán đổi rủi ro tín dụng theo hai cách. Mỗi bên đối tác phải làm điều gì đó cho bên thứ hai. Nếu chúng ta cố định các yếu tố khác không thay đổi, thì rủi ro tín dụng của một FRA hoặc một hoán đổi lãi suất được xác định bởi chất
  16. 16. 11 lượng tín dụng của các đối tác tham gia, các điều khoản của hợp đồng và kiểu cấu trúc kỳ hạn. Ví dụ chúng ta hãy xem một hoán đổi lãi suất vanilla thuần nhất 5 năm. Với cấu trúc kỳ hạn theo hướng đi lên thì lãi suất kỳ hạn đang gia tăng. Các lãi suất này có thể bằng với lãi suất thả nổi và cuối cùng sẽ bằng với lãi suất thả nổi nếu không có thay đổi về lãi suất trong suốt thời gian hoán đổi. Khi hoán đổi được thiết lập lúc ban đầu , bên thanh toán lãi suất cố định và nhận lãi suất thả nổi lúc đầu sẽ chi trả nhiều hơn là nhận được, nhưng sau đó số tiền nhận được từ thả nổi sẽ bắt kịp với các khoản thanh toán cố định. Vào bất kỳ thời điểm nào trong thời gian của hợp đồng thì chỉ có một bên gánh chịu rủi ro tín dụng hiện hành mà thôi, đó chính là bên đối tác nhận được giá trị dương của hợp đổng. Rủi ro tín dụng tiềm ẩn sẽ phản ảnh hiệu ứng kết hợp của rủi ro thay đổi trong suốt thời gian còn lại của hợp đồng. Cả hai bên đối tác đều phải gánh chịu rủi ro tiềm ẩn. Trong trường hợp hoán đổi lãi suất, rủi ro tiềm ẩn sẽ lớn nhất trong suốt khoảng giữa thời gian của hoán đổi. Rủi ro tín dụng tiềm ẩn thấp hơn vào lúc bắt đầu hoán đổi vì chúng ta đã giả định rằng ngưởi ta sẽ không tham gia hoán đổi nếu có bất cứ khó khăn đáng kể nào xảy ra vào lúc gần đáo hạn hợp đồng. Rủi ro tín dụng tiềm ẩn cao trong suốt phần giữa của thời gian hoán đổi vì các bên tham gia hoán đổi có thời gian để phá hủy các điều kiện tài chính của mình. Rủi ro tín dụng tiềm ẩn thấy trong suốt thời gian sau đó của vòng đời hoán đổi vì chỉ còn lại ít khoản thanh toán hơn. Chúng ta nên nhớ rằng hoán đổi lãi suất không liên quan đến tỷ giá của vốn ban đầu giống như là hoán đổi tiền tệ. Điều này cũng làm cho rủi ro tín dụng thấp vào cuối vòng đời hoán đổi lãi suất nhưng lại gia tăng đối với hoán đổi tiền tệ. b. Rủi ro tín dụng trong các ngân hàng Rủi ro tín dụng nếu phân chia theo tính chất nghiệp vụ thì bao gồm - Rủi ro trong hoạt động cho vay: là khi khách hàng không trả được nợ hoặc không có ý định trả nợ cho ngân hàng.
  17. 17. 12 - Rủi ro trong hoạt động bảo lãnh: khi ngân hàng chấp nhận phát hành bảo lãnh cho khách hàng cũng có nghĩa là ngân hàng phải chịu trách nhiệm trả tiền thay cho khách hàng nếu họ không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ đã thoả thuận với đối tác. Do vậy rủi ro mất vốn là rất lớn. - Rủi ro trong hoạt động thuê mua : Trong thời gian sử dụng và nắm giữ tài sản đặc biệt là trong cho thuê tài chính, khách hàng không thực hiện cam kết trả tiền thuê hay bảo quản tài sản cho thuê dẫn đến mất mát và hư hỏng. - Rủi ro trong hoạt động chiết khấu : xuất phát từ việc ngân hàng chiết khấu các hối phiếu giả mạo. Hoặc cũng có thể là do khả năng tài chính yếu kém của người thụ lệnh cũng như người hưởng thụ. Một trong hai bên sẽ phải trả tiền cho ngân hàng, và rủi ro sẽ xảy ra trong trường hợp cả hai bên không có khả năng thanh toán. * Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại sau - Rủi ro giao dịch : là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân xảy ra do những hạn chế trong quá trình giao dịch và kiểm định cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch gồm có: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi Rủi ro lựa chọn Rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi ro danh mục Rủi ro nội tại Rủi ro tập trung Rủi ro bảo đảm Rủi ro nghiệp vụ
  18. 18. 13 ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn : Trước khi ngân hàng quyết định cho vay thì phải lựa chọn đánh giá xem phương án vay vốn đó có hiệu quả hay không. Việc đánh giá này thông qua quá trình phân tích tín dụng. Việc lựa chọn sai sẽ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng. + Rủi ro bảo đảm : phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo. Định sai hay thiếu các tiêu chuẩn bảo đảm đều dẫn đến rủi ro cho ngân hàng. + Rủi ro nghiệp vụ : là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục : là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại : rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại : xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. + Rủi ro tập trung : Khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng hoặc cho các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một lĩnh vực, một loại hình kinh doanh hay trong cùng một vùng lãnh thổ địa lý nhất định vay, nếu những đối tượng ấy gặp phải rủi ro không có khả năng trả nợ thì ngân hàng sẽ khó khăn trong việc thu hồi vồn, gây ra khó khăn trong các hoạt động kinh doanh tiếp theo. 1.2.3 Rủi ro hoạt động 1.2.3.1 Khái niệm
  19. 19. 14 Rủi ro hoạt động là rủi ro do thất bại trong hoạt động các giao dịch phái sinh hoặc hệ thống quản trị rủi ro. 1.2.3.2 Nguyên nhân Rủi ro này có thể do năng lực yếu kém của nhà quản lý, gặp sự cố máy tính như bị virus hay lỗi phần mềm, thất bại của ban giám đốc trong việc quan sát và ghi chép các giao dịch, hạn chế của ban giám đốc về am hiểu các giao dịch phức tạp tiềm ẩn, không chuẩn bị được những tài liệu đúng quy tắc và vấn đề gian lận của người giao dịch và ban giám đốc. Các rủi ro này có thể xảy ra trong hầu hết các loại hoạt động kinh doanh nhưng do các giao dịch phái sinh phức tạp hơn và thường liên quan đến khoản tiền khổng lồ nên rủi ro hoạt động trở nên rất quan trọng và mang tính quyết định. 1.2.3.3. Phòng ngừa Rủi ro hoạt động có thể tránh được với các biện pháp phòng ngừa thích hợp, chính sách sao lưu dự phòng toàn diện tại một số khu vực phải quản lý xa và chính sách quản lý rõ ràng. Để tránh gian lận, các nhà hoạch định chính sách tự đặt mình trong quan điểm của người muốn để gian lận và thiết lập các quy tắc nhằm tránh sơ hở. Một điều phải luôn luôn ghi nhớ là việc thiếu kiểm tra và kiểm soát có thế dẫn đến những thảm họa tài chính không thể lường trước được. Vì vậy, có lẽ hầu hết tầm quan trọng của rủi ro hoạt động nằm ở hiệu quả của kiểm soát nội bộ. Ví dụ, nếu một người nào đó được tham gia trong các giao dịch phái sinh, thì hoạt động của người đó sẽ bị một người khác theo dõi và báo cáo với cấp trên. Bất cứ người nào được phép giao dịch cũng bị hạn chế về phạm vị hoạt động, nghĩa là họ chỉ được phép tham gia vào một số loại hợp đồng nào đó mà thôi. Ngoài ra, họ còn bị khống chế số tiền giao dịch. Tiến trình kiểm soát phải được thực hiện tốt để đảm bảo rằng các thành viên tham gia tuân thủ theo những chính sách đã ban hành. Mặc dù vậy, một vài công ty không xây dựng được các chính sách hợp lý và chưa thực sự tiến hành kiểm soát một cách có hiệu quả. Trong thực tế cũng có thể xảy ra các giao dịch không
  20. 20. 15 có ủy quyền. Một cá nhân trong một công ty nếu thực hiện một giao dịch không thích hợp hoặc giao dịch này đặt công ty vào rủi ro quá mức ( rủi ro mà công ty không được phép thực hiện) thì cá nhân đó được gọi là nhà giao dịch rogue. Họ là người giao dịch trong phạm vi công ty nhưng lại ngoài giới hạn kiểm soát của công ty. Ngày nay, rủi ro hoạt động được mọi người quan tâm một cách đặc biệt nhưng đây là một trong các phương pháp quản trị rủi ro khó nhất. Khó khăn thứ nhất là rất khó nhận diện và định nghĩa rủi ro hoạt động. Khó khăn thứ hai là rủi ro hoạt động không dễ dàng thích hợp với các phân tích. Nhưng cũng may là các khoản lỗ do rủi ro hoạt động xảy ra không thường xuyên, tuy nhiên khi chúng xảy ra thì tổn thất rất đáng kể. Việc hiếm khi xảy ra của rủi ro hoạt động đã mang lại hai vấn đề chủ yếu: Một là, do ít xảy ra nên chúng không tuân theo các kỹ thuật thống kê chuẩn để phân tích, phân phối chuẩn hoặc ngay cả các phân phối thông thường khác đều không phù hợp với các trường hợp không bình thường của những tổn thất rủi ro hoạt động. Hai là, có quá ít số liệu về tổn thất do rủi ro hoạt động gây ra. Một khi công ty bị những tổn thất như thế, tốt nhất là họ không nên biểu lộ những thông tin này ra bên ngoài bởi vì đây là những thông tin cho thấy sự lúng túng và tình trạng luộm thuộm trong hệ thống nội bộ của công ty. Việc hiếm khi xảy ra trong quá khứ và thiếu số liệu về rủi ro hoạt động đã gây khó khăn cho chúng ta trong việc dự đoán các tổn thất như vậy sẽ xảy ra ở đâu và xảy ra vào lúc nào. Tuy nhiên, các bộ phận quản trị rủi ro bắt đầu nhận thấy khó khăn này và do đó họ cũng đã cố gắng cung cấp thông tin số liệu giữa các công ty với nhau. Ngày nay rủi ro hoạt động càng được nhiều công ty đưa vào danh mục quản lý trong các chính sách bảo hiểm truyền thống của họ. Khi một công ty bảo hiểm cung cấp dịch vụ bảo vệ giọng hát của một ca sĩ trong buổi hòa nhạc, có nghĩa là công ty đang đảm bảo chống lại một trường hợp hiếm xảy ra của
  21. 21. 16 bản chất rủi ro hoạt động. Khi công ty bảo hiểm chống lại sự gian lận của công nhân, đây chính là một loại rủi ro hoạt động. Vì vậy chúng ta không có gì ngạc nhiên khi thấy các công ty bảo hiểm bắt đầu tiếp thị các sản phẩm bảo hiểm rủi ro hoạt động trong lĩnh vực tài chính đặc biệt là trong mối quan hệ với các giao dịch liên quan đến các công cụ phái sinh. Chúng ta biết rằng hiện nay không có hợp đồng phái sinh nào để bảo vệ chống lại rủi ro hoạt động. Các nhà nghiên cứu thị trường phái sinh đang thảo luận bắt đầu hướng về việc tạo ra công cụ phái sinh rủi ro hoạt động và chúng ta tin rằng chắc chắn các công cụ này sẽ xuất hiện trong một tương lai gần. 1.2.4 Rủi ro thanh khoản Rủi ro liên quan đến 1 giao dịch do tình trạng chợ chiều, được thể hiện qua việc có ít các dealer và chênh lệch giá mua, giá bán quá lớn. Rủi ro thanh khoản là rủi ro xảy ra khi một công ty cần tham gia một giao dịch phái sinh và nhận thấy rằng thị trường của giao dịch này quá thưa thớt đến nỗi mà giá cả trên thị trường của giao dịch gồm một khoản chiết khấu hoặc một phần bù cho tính thanh khoản. Bất kỳ một nhà tạo lập thị trường nào trên một công cụ không có tính thanh khoản sẽ gánh chịu rủi ro đáng kể và phải chi trả cho chênh lệch giá mua vào bán ra khá cao ngay cả khi họ không sẵn lòng giao dịch. Hầu hết các công cụ phái sinh vanilla thuần nhất đều có rủi ro thấp nhưng mà các giao dịch ngoại lai lại có rủi ro thanh khoản cao. Mặc dù vậy, rủi ro thanh khoản hầu như không bị giới hạn đối với các công cụ phái sinh. Điều này được chứng minh trong khoản thời gian tháng 8 tháng 9 năm 1998 khi Qũy quản trị vốn dài hạn (LTCM) – là một quỹ phòng ngừa rủi ro khá nổi tiếng trong lĩnh vực trong lĩnh vực tài chính – nhận thấy rằng họ đang nắm giữ các vị thế của các trái phiếu có tính thanh khoản rất thấp ở khắp nơi trên thế giới. Mặc dù LTCM đã có hệ thống quản trị rủi ro khá tinh tế và công ty cũng sở hữu một số nhà kinh doanh thông minh nhất nhưng họ đã không đánh giá được một cách đầy đủ những tác động của tính không thanh khoản trong suốt cuộc khủng
  22. 22. 17 hoảng tài chính toàn cầu mà các thị trường khắp nơi trên thế giới cùng bị sụp đổ đồng loạt. LCTM đã gánh chịu các tổn thất nghiêm trọng đến mức mà Cục dự trưc liên bang Mỹ đã phải can thiệp bằng cách dàn xếp các ngân hàng có các chính sách trợ giúp tài chính cho LCTM. 1.2.5 Rủi ro thanh toán. Thường phổ biến trong các giao dịch quốc tế. Giả sử một ngân hàng ở nước A tham gia một giao dịch tài chính với một công ty ở nước B trong đó cả ngân hàng và công ty buộc phải thanh toán cho nhau chứ không thanh toán ròng (vd một hoán đổi tiền tệ thường được thực hiện mà không sử dụng netting bởi vì thanh toán xảy ra dưới hai dòng tiền khác nhau. Ngân hàng và doanh nghiệp cách nhau 12 giờ trong đó ngày của ngân hàng được bắt đầu trước. Vào ngày thanh toán, ngân hàng chuyển ngân quỹ của mình sang cho công ty dưới giả định khi thị trường mở cửa công ty sẽ chuyển ngân quỹ lại cho ngân hàng. Tuy nhiên, khi thị trường mở cửa công ty thông báo rằng mình bị phá sản và sẽ tạm hoãn tất cả các khoản thanh toán. Như vậy, ngân hàng sẽ không có tiền và sẽ cùng số phận với các chủ nợ khác của công ty. Rủi ro này thình thoảng được gọi là rủi ro Herstatt, Herstatt là tên của một ngân hàng Đức vào năm 1974 bị phá sản cũng trong một hoàn cảnh tương tự như vậy, rủi ro thanh toán có thể xuất hiện mà không có phá sản, tình trạng không trả được nợ và sự gian lận. 1.2.6 Rủi ro kế toán. Là sự không chắc chắn trong cách xử lý các nghiệp vụ kế toán đặc trưng cho các giao dịch phái sinh. Kế toán các công cụ phái sinh là một nguồn rủi ro đáng kể và đã gây ra tranh luận trong nhiều năm mãi cho đến giờ. Những người sử dụng các công cụ phái sinh luôn luôn quan ngại đến cách mà họ giải thích nguyên nhân các công cụ phái sinh được công khai một cách không thỏa đáng sau các sự kiện xảy ra và họ cũng quan ngại đến việc họ sẽ bị yêu cầu phải trình bày lại các giao dịch trong quá khứ có thu nhập thấp 1.2.7 Rủi ro pháp lý
  23. 23. 18 Rủi ro pháp lý là rủi ro mà hệ thống pháp luật sẽ không còn bảo đảm thực hiện được hợp đồng. ví dụ, giả sử một nhà giao dịch tham gia vào một hoán đổi với một đối tác mà đối tác này do gần đây bị thiệt hại một khoản lỗ nên đã từ chối thanh toán cho nhà giao dịch, hai bên đang tranh luận nhà giao dịch nên chấp nhận hoặc là phía đối tác không có quyền về mặt pháp lý để tham gia hoán đổi. Các tranh luận này đã được chính quyền địa phương giải quyết khá thành công. Rủi ro do không thực thi các hợp đồng là một vấn đề rất nghiêm trọng đối với các nhà giao dịch. Rủi ro này có thể làm cho một hoán đổi hoặc một FRA trở thành một quyền chọn hết sức dễ dàng, bởi vì đối tác sẽ ra đi không thực hiện thanh toán nếu thị trường biến động không có lợi cho họ. Không có gì quá ngạc nhiên khi chúng ta thấy rằng không có đối tác nào từng quả quyết là họ đã thất bại hoặc là không có quyền thực hiện các công cụ phái sinh sau khi đã kiếm tiền trên những công cụ này Rủi ro pháp lý là những sự kiện pháp lý bất lợi xảy ra một cách bất ngờ, gây nên thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất đối với doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. Rủi ro pháp lý có những đặc điểm sau đây: * Thứ nhất, đó là khả năng xảy ra sự sai lệch bất lợi so với dự tính của doanh nghiệp. * Thứ hai, sai lệch bất lợi mà doanh nghiệp gặp phải xảy ra trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp * Thứ ba, các sai lệch bất lợi mà doanh nghiệp gặp phải có nguyên nhân trực tiếp chính là các quy định của pháp luật. 1.3. Quản trị rủi ro là gì? Quản trị rủi ro là xác định mức độ rủi ro mà một công ty mong muốn, nhận diện được mức độ rủi ro hiện nay của công ty đang gánh chịu và sử dụng các công cụ phái sinh hoặc các công cụ tài chính khác để điều chỉnh mức độ rủi ro thực sự theo mức rủi ro mà mình mong muốn. 1.4. Tại sao cần quản trị rủi ro ?
  24. 24. 19 Lý do chính để tiến hành quản trị rủi ro là những quan ngại có liên quan đến độ bất ổn của lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hoá và giá cổ phiếu trong hoạt động kinh doanh của các công ty và các định chế tài chính. Các công ty có xu hướng chấp nhận rủi ro trong nội bộ ngành mà công ty đang hoạt động và mong muốn né tránh được những rủi ro từ các yếu tố ngoại sinh. Một vài công ty bắt đầu tiến hành quản trị rủi ro do nhìn vào gương của một số các công ty không làm như thế, và họ cũng đã gặp phải những thất bại khá đau buồn. Một vài nhân tố khác đã đóng góp vào những tăng trưởng trong việc sử dụng các công cụ phái sinh để quản trị rủi ro . Đầu tiên phải kể đến là sự bùng nổ kỹ thuật thông tin đã cho phép xử lý một khối lượng tính toán khổng lồ và phức tạp để định giá các công cụ phái sinh một cách nhanh chóng với chi phí thấp nhất và theo dõi các vị thế đã được thực hiện trên các công cụ phái sinh. Một số các nhân tố khác là môi trường pháp lý ngày càng tỏ ra thông thoáng. Ở các nước phát triển mà điển hình là Mỹ, CFTC đã thừa nhận sự hình thành một thị trường chuyên biệt vào đầu những năm 1980, đã mở ra hướng phát triển cho một gia tanwg cề số lượng các hợp đồng giao sau cải tiến như hợp đồng giao sau Eurodollars và hợp đồng giao sau chỉ số chứng khoán. Các hợp đồng này tạo ra một động lực dẫn đến nhiều cải tiến hơn nữa trên các thị trường chính thức và thị trường OTC. Lợi ích của quản trị rủi ro: Các công ty quản trị rủi ro để giảm thuế, giảm chi phí phá sản, bởi vì các nhà quản trị quan tâm đến tài sản của riêng họ, để tránh đầu tư lệch lạc, để thực hiện vị thế đầu cơ khi có dịp, để kiếm được lợi nhuận kinh doanh chênh lệch hoặc để giảm rủi ro tín dụng và từ đó làm giảm chi phí đi vay. Cần phải lưu ý là bản thân việc giảm rủi ro không là lý lẽ hoàn hảo để lý giải về việc tại sao công ty phải phòng ngừa và quản trị rủi ro. Các công ty nào chấp nhận rủi ro thấp hơn, thì trong dài hạn họ sẽ nhận được tỷ suất sinh lợi thấp hơn. Hơn nữa, nếu như các cổ đông của họ thực sự muốn rủi ro thấp hơn,
  25. 25. 20 họ có thể dễ dàng điều chỉnh lại các danh mục đầu tư của họ bằng cách thay thế các chứng khoán rủi ro cao bằng chứng khoán rủi ro thấp. Quản trị rủi ro phải tạo ra giá trị cho cổ đông, tức là làm ra cho họ những gì mà bản thân cổ đông không thể tự mình làm được. Nói rộng ra thì quản trị rủi ro sẽ làm giảm thiểu được khả năng phá sản vốn rất tốn kém, tiết kiệm được tiền thuế, và tạo điều kiện dễ dàng cho công ty đầu tư vào các dự án có lời và bằng những lợi ích nhận được như thế, rõ ràng là giá triij sẽ được tạo ra cho các cổ đông. 1.5. Các quy định về quản trị rủi ro (basel) 1.5.1. Basel 1 Sau hàng loạt vụ sụp đổ của các ngân hàng vào thập kỷ 80, một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) đã tập hợp tại thành phố Basel, Thụy Sĩ vào năm 1987 tìm cách ngăn chặn xu hướng này. Sau khi nhóm họp, các cơ quan này đã quyết định hình thành Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision), đưa ra các nguyên tắc chung để quản lý hoạt động của các ngân hàng quốc tế. Năm 1988, Uỷ ban này đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệp ước về vốn của Basel (Basel I), yêu cầu các ngân hàng hoạt động quốc tế phải nắm giữ một mức vốn tối thiểu để có thể đối phó với những rủi ro có thể xảy ra. Mức vốn tối thiểu này là một tỷ lệ phần trăm nhất định trong tổng vốn của ngân hàng, do đó mức vốn này cũng được hiểu là mức vốn tối thiểu tính theo trọng số rủi ro của ngân hàng đó. Mục đích của Basel I nhằm: - Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế. - Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế. Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi là tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng. Theo đó, vốn của ngân hàng được chia làm 2 loại:
  26. 26. 21 - Vốn cấp 1 (vốn cơ bản): Vốn loại 1 bao gồm lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố, như là khoản dự phòng cho các khoản vay. - Vốn cấp 2 (vốn bổ sung): Vốn cấp 2 bao gồm tất cả các vốn khác như các khoản lợi nhuận trên tài sản đầu tư, nợ dài hạn với kỳ hạn lớn hơn 5 năm và các khoản dự phòng ẩn (như trợ cấp cho các khoản vay và trợ cấp cho các khoản cho thuê). Tuy nhiên, các khoản nợ ngắn hạn không có bảo đảm không bao gồm trong định nghĩa về vốn này. Tổng vốn sẽ bằng tổng của vốn cấp 1 và vốn cấp 2. - Vốn cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn Vốn cấp 1 >= Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3 Vốn tính theo rủi ro gia quyền Tài sản tính theo rủi ro gia quyền (RWA) = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng CĐKT) + Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng) Theo quy định của Basel I, các ngân hàng cần xác định được tỷ lệ vốn tối thiểu cần có để bù đắp cho rủi ro. Lúc đó, các nhà hoạch định chính sách của ngân hàng trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước mới chỉ nhìn nhận ra các nguy cơ từ rủi ro tín dụng, và vì vậy, mức rủi ro tín dụng mà ngân hàng đối mặt được xác định là tài sản điều chỉnh theo rủi ro của ngân hàng. Theo Basel I, tổng vốn của một ngân hàng cần ít nhất bằng 8% rủi ro tín dụng của ngân hàng đó. Tỷ lệ vốn tối thiểu = (Tổng vốn/tài sản điều chỉnh theo trọng số rủi ro) > 8% Tỉ lệ thoả đáng về vốn (CAR) = Vốn bắt buộc / Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền 5 định mức về vốn: - Mức vốn tốt: CAR > 10% - Mức vốn thích hợp: CAR > 8%
  27. 27. 22 - Thiếu vốn: CAR < 8% - Thiếu vốn rõ rệt: CAR < 6% - Thiếu vốn trầm trọng: CAR < 2% Chúng ta hãy xem xét các bước tính dưới đây để hiểu hơn về tài sản điều chỉnh theo rủi ro và yêu cầu về vốn theo Basel I. Bảng 1 chỉ ra các hạng mục đã được định trước về mức độ nhạy cảm với rủi ro trên bảng cân đối kế toán, như là độ nhạy cảm với các sự kiện ngoài dự kiến gây ra tổn thất, được tính theo 4 loại trọng số rủi ro (0%, 20%, 50% và 100%). Bảng 1. Trọng số rủi ro theo loại tài sản Trọng số rủi ro Phân loại tài sản 0% Tiền mặt và vàng nằm trong ngân hàng. Các nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ và Bộ Tài chính. 20% Các khoản trả nợ của ngân hàng có quy mô lớn Chứng khoán phát hành bởi các cơ quan Nhà nước 50% Các khoản vay thế chấp nhà ở,… 100% Tất cả các khoản vay khác như trái phiếu của doanh nghiệp, các khoản nợ từ các nước kém phát triển, các khoản vay thế cấp cổ phiếu, bất động sản,… Theo đó, các trọng số rủi ro khác nhau với các loại tài sản khác nhau sẽ cho ra những yêu cầu về vốn khác nhau như bảng 2. Bảng 2. Loại tài sản Trọng số rủi ro Tỷ lệ vốn Số tiền Tài sản điều chỉnh theo trọng số rủi ro Yêu cầu về vốn tối thiểu
  28. 28. 23 Trái phiếu Chính phủ 0% 8% 1.000 USD 0 USD 0 USD Trái phiếu đô thị 20% 8% 1.000 USD 200 USD 16 USD Thế chấp nhà ở 50% 8% 1.000 USD 500 USD 40 USD Vay không bảo đảm 100% 8% 1.000 USD 1.000 USD 80 USD Theo biến đổi của thị trường, năm 1996, Hiệp ước Basel I được sửa đổi có tính đến rủi ro thị trường. Theo đó, rủi ro thị trường bao gồm cả rủi ro thị trường chung và rủi ro thị trường cụ thể. Rủi ro thị trường chung đề cập đến những thay đổi về giá trị thị trường do có sự biến động lớn trên thị trường. Rủi ro thị trường cụ thể là những thay đổi về giá trị của một loại tài sản nhất định. Có 4 loại biến số kinh tế làm phát sinh rủi ro thị trường, đó là tỷ giá lãi suất, ngoại hối, chứng khoán và hàng hóa. Rủi ro thị trường có thể được tính theo 2 phương thức hoặc là bằng mô hình Basel tiêu chuẩn hoặc là bằng các mô hình giá trị chịu rủi ro nội bộ của các ngân hàng. Những mô hình nội bộ này chỉ có thể được sử dụng nếu ngân hàng thoả mãn các tiêu chuẩn định tính và định lượng được quy định trong Basel. 1.5.2 Basel II Mặc dù có rất nhiều điểm mới nhưng Hiệp ước Basel I với bản sửa đổi năm 1996 vẫn có khá nhiều điểm hạn chế. Một trong những điểm hạn chế đó là Basel I đã không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp và với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro tác nghiệp. Chính vì vậy, từ năm 1999, Uỷ ban Basel đã nỗ lực đưa ra một Hiệp ước mới thay thế cho Basel I, và cho đến năm 2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn của Basel (Basel II) đã chính thức được ban hành. Với cách tiếp cận mới dựa trên 3 cột trụ chính, Basel II đã buộc các ngân hàng quốc tế phải tuân thủ theo 3 nguyên tắc cơ bản: a. Nguyên tắc thứ nhất: Các ngân hàng cần phải duy trì một lượng vốn đủ lớn để trang trải cho các hoạt động chịu rủi ro của mình, bao gồm rủi ro tín dụng,
  29. 29. 24 rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp (Cột trụ 1). Theo đó, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, thay đổi nhỏ với rủi ro thị trường nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro tác nghiệp. b. Nguyên tắc thứ hai: Các ngân hàng cần phải đánh giá một cách đúng đắn về những loại rủi ro mà họ đang phải đối mặt và đảm bảo rằng những giám sát viên sẽ có thể đánh giá được tính đầy đủ của những biện pháp đánh giá này (Cột trụ 2). Với cột trụ này, Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát:  Các ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn của họ theo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó.  Các giám sát viên nên rà soát và đánh giá lại quy trình đánh giá về mức vốn nội bộ cũng như về các chiến lược của ngân hàng. Họ cũng phải có khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu. Theo đó, giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả của quy trình này.  Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định.  Giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu. Tính toán tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu Khung hiệp ước mới bao gồm cả: - Định nghĩa hiện tại về vốn thường xuyên. - Yêu cầu tỉ lệ vốn tối thiểu trên tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền phải từ 8% trở lên. Tỉ lệ thỏa đáng về vốn (CAR) ≥ 8%
  30. 30. 25 CAR = (Vốn cấp I + Vốn cấp II + Vốn cấp III)/RWA Cách tiếp cận IRB – các loại mức độ nhạy cảm Cách tiếp cận dựa trên phân cấp nội bộ (Internal Ratings Based approach) đề cập đến một hệ thống các kỹ thuật đo lường rủi ro được đưa ra bởi luật thỏa đáng vốn Basel II đối với các tổ chức ngân hàng. - Mức độ nhạy cảm của doanh nghiệp (corporate exposure): nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp, theo đó nguồn để hoàn trả lại tiền chủ yếu là từ hoạt động hiện tại của bên vay, chứ không từ dòng tiền từ dự án hoặc từ bất động sản. - Mức độ nhạy cảm của ngân hàng (bank exposure): bao gồm các công bố đối với ngân hàng và các công ty chứng khoán; họ có thể bao gồm các Ngân hàng Phát triển Đa phương (MDB). - Mức độ nhạy cảm của quốc gia (sovereign exposure): bao gồm các quốc gia (và các ngân hàng Trung ương). PSE được định nghĩa như một pháp chế theo cách tiếp cận tiêu chuẩn, và các MDB thỏa mãn các tiêu chí 0% về rủi ro theo cách tiếp cận tiêu chuẩn. Rủi ro thị trường Hai phương pháp để đo rủi ro thị trường (bất biến): - Cách tiếp cận chuẩn hóa. - Cách tiếp cận mô hình nội bộ (mô hình giá trị khi rủi ro: VaR). Rủi ro tín dụng Rủi ro có nguyên nhân từ sự không chắc chắn về khả năng hoặc độ sẵn sàng của một đối tác thực thi các nghĩa vụ trong hợp đồng. Cách tiếp cận tiêu chuẩn có điều chỉnh: - Tăng cường độ nhạy cảm đối với rủi ro so với Hiệp ước 1988. Song giống như hiệp ước 1988, trọng số rủi ro được quyết định bởi phân loại người vay (chính phủ, ngân hàng, doanh nghiệp).
  31. 31. 26 - Trọng số rủi ro dựa vào phân loại tín dụng bên ngoài (nếu có). - Gia tăng độ nhạy cảm về rủi ro. - Hướng tới các ngân hàng mong muốn có một khung vốn đơn giản. Yêu cầu vốn tối thiểu = Mức độ nhạy cảm x Trọng số rủi ro (%) x 8% Trọng số rủi ro Phân loại Đánh giá AAA tới AA- A+ tới A- BBB+ tới BBB- BB+ tới B- Dưới B- Không xếp loại Quốc gia 0% 20% 50% 100% 150% 100% Ngân hàng Trường hợp 1 20% 50% 100% 100% 150% 100% Trường hợp 2 20% 50% 50% 100% 150% 50% Doanh nghiệp 20% 50% 100% 100% 150% 100% IRB cơ bản (F-IRB) và IRB nâng cao (A-IRB): - Dựa vào tính toán nội bộ của một ngân hàng. - Nhạy cảm hơn nhiều đối với rủi ro. Đi cùng với các tiêu chuẩn tối thiểu và yêu cầu công bố thông tin.
  32. 32. 27 c. Nguyên tắc thứ ba: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường (Cột trụ 3). Với cột trụ này, Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro tác nghiệp và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này. Như vậy, với quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra, các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảm thiểu được rủi ro. Áp dụng Basel II mang lại cơ hội cho các ngân hàng : - Sử dụng ít vốn một cách tiềm năng để bù đắp các rủi ro. - Quản lý kinh doanh tốt hơn. - Quản lý vốn hiệu quả hơn. - Nâng cao lợi nhuận trên vốn - một biện pháp quản lý chủ yếu. 1.5.3. Basel III : Sau cuộc họp ngày 12/9/2010 của Ủy ban Giám sát ngân hàng Basel, các thành viên đã đạt được thỏa thuận về những chuẩn mới trong Basel 3. Trong phạm vi bài viết này, xin nêu những điểm mới cơ bản nhất trong Basel 3, lộ trình dự kiến áp dụng do BIS (Bank for International Settlements) đưa ra Theo bài phát biểu của Ông Stefan Walter, Tổng thư ký Ủy ban Basel trong hội thảo lần thứ năm về Giám sát và quản lý rủi ro tại Basel, Basel 3 có những điểm mới hết sức cơ bản sau: Thứ nhất, nâng cao chất lượng vốn. Trước hết, Basel 3 sẽ giúp nâng cao chất lượng vốn của các ngân hàng một cách đáng kể. Đây là đặc điểm chính của Basel 3. Theo BIS, nội dung của định nghĩa về vốn rất quan trọng và cần phải được định nghĩa đầy đủ trước khi xác định mức vốn phù hợp. Chất lượng vốn
  33. 33. 28 tốt hơn đồng nghĩa với việc khả năng bù đắp các khoản lỗ tốt hơn, điều này giúp cho ngân hàng “khỏe” hơn, do đó có khả năng chống đỡ tốt hơn trong thời kì khó khăn. Theo quy định này, vốn cổ phần thông thường được quy định chặt chẽ hơn. Theo quy định hiện tại, những tài sản có chất lượng kém sẽ phải khấu trừ vào vốn (vốn cấp 1 + vốn cấp 2). Theo Basel 3, việc khấu trừ sẽ nghiêm ngặt hơn,khấu trừ thẳng vào vốn cổ phần thông thường. Hơn nữa, định nghĩa vốn cấp 1 cũng quy định chặt chẽ hơn bao gồm vốn thường và các công cụ tài chính có chất lượng theo những tiêu chuẩn chặt chẽ. Thứ hai, yêu cầu các ngân hàng bổ sung thêm vốn. Theo quan điểm của Basel, chất lượng vốn tốt hơn vẫn chưa đủ. Rút kinh nghiệm từ bài học của cuộc khủng hoảng tài chính, Ủy ban Basel cho rằng khu vực ngân hàng cần nhiều vốn hơn nữa. Do đó, những tiêu chuẩn về hạn mức tối thiểu về vốn của các ngân hàng sẽ tăng mạnh trong những năm tới. Theo quy định này, các ngân hàng phải duy trì mức vốn phù hợp trên mức vốn tối thiểu tùy vào mức độ rủi ro, mô hình kinh doanh, điều kiện kinh tế. Khả năng đưa ra các quy định chặt chẽ về vốn của cơ quan giám sát quốc gia sẽ là yếu tố quan trọng trong các nguyên tắc của Basel 3. Và các tiêu chuẩn an toàn vốn tối thiểu cũng đã được Ủy ban Basel một lần nữa dự thảo và thồng qua phiên bản thứ 3 (Basel 3), nội dung bao gồm: - Nâng tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu (cổ phần phổ thông) từ 2% (basel 2) lên 4,5% (basel 3) - Nâng tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu từ 4% (basel 2) lên 6%.(basel 3) - Bổ sung phần vốn đệm dự phòng tài chính đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu 2,5%. - Tùy theo bối cảnh của mỗi quốc gia, một tỷ lệ vốn đệm phòng ngừa sự suy giảm theo chu kỳ kinh tế có thể được thiết lập với tỷ lệ từ 0 - 2,5% và phải được đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu phổ thông (common equity). Phần vốn dự phòng này chỉ đòi hỏi trong trường hợp có sự tăng trưởng tín
  34. 34. 29 dụng nóng, nguy cơ dẫn đến rủi ro cao trong hoạt động tín dụng một cách có hệ thống Thứ ba, giới thiệu phương pháp giám sát an toàn vĩ mô hệ thống để các ngân hàng áp dụng. Yếu tố quan trọng thứ 3 của quy định mới về vốn là phương pháp giám sát an toàn vĩ mô đề cập tới rủi ro hệ thống. Theo BIS, có hai việc cần làm để hạn chế rủi ro hệ thống hiệu quả. - Một là, giảm mức độ khuyếch đại của khủng hoảng theo chu kỳ kinh tế. Đó là xu hướng hệ thống tài chính có thể làm khuyếch đại giai đoạn thăng trầm của nền kinh tế thực. - Hai là, mối quan hệ phụ thuộc và những rủi ro chung của các tổ chức tài chính, đặc biệt đối với những ngân hàng có vai trò quan trọng trong hệ thống. Như vậy, Basel 3 là một bước ngoặt trong việc xây dựng các quy định tài chính. Lần đầu tiên trong các quy định tài chính đề cập tới các thước đo giám sát an toàn vĩ mô được sử dụng để bổ sung cho phương pháp giám sát an toàn vi mô của từng tổ chức tín dụng. Ủy ban Basel đang nghiên cứu các thước đo đối với những tổ chức có tầm quan trọng đối với hệ thống Thứ tư, quy định về tiêu chuẩn thanh khoản đối với các ngân hàng. Basel 3 đưa ra tiêu chuẩn về thanh khoản. Đây là điều đặc biệt quan trọngchưa có tiêu chuẩn quốc tế nào quy định về vấn đề này. Tỷ lệ thanh khoản sẽ được ban hành vào 1/1/2015, giúp ngân hàng có khả năng chống đỡ ngắn hạn tốt hơn với những căng thẳng thanh khoản. Quy định này yêu cầu ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao và có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu chi trả trong những trường hợp khó khăn. Thực tế, việc quản lý rủi ro thanh khoản rất khác nhau tại từng quốc gia. Ủy ban Basel sẽ sử dụng nhiều quy trình báo cáo để theo dõi các tỷ lệ trong quá trình chuyển đổi để đảm bảo các tiêu chuẩn được tính toán như dự kiến. Các tiêu chuẩn của Basel 3 không có hiệu lực ngay lập tức. Chúng bắt đầu có hiệu lực từ năm 2013, được thực hiện theo một lộ trình đến hết năm 2018 và sẽ
  35. 35. 30 thực hiện đầy đủ vào ngày 1/1/2019. Bảng sau sẽ cho thấy lộ trình cụ thể của việc thực thi hiệp ước Basel 3: (xem bảng). Chỉ tiêu 2013 2014 201 5 2016 2017 2018 201 9 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu 3,5% 4.0% 4,5% 4,5% 4,5% 4,5% 4,5 % Vốn đệm dự phòng 0,625 % 1.25% 1,875% 2,5 % Vốn chủ sở hữu tối thiểu cộng vốn đệm dự phòng 3,5% 4% 4,5% 5,125 % 5,76% 6,375% 7% Loại trừ khỏi vốn chủ sở hữu các khoản vốn không đủ tiêu chuẩn 20% 40% 60% 80% 100% 100 % Tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu 4,5% 5,5% 6,0% 6,0% 6,0% 6,0% 6,0 % Tỷ lệ tổng vốn tối thiểu 8% 8% 8% 8% 8% 8% 8% Tổng vốn tối thiểu cộng vốn đệm dự phòng bắt buộc 8% 8% 8% 8,625 9,125 9,875 10,5 Loại trừ khỏi vốn cấp 1 và cấp 2 các khoản không đủ tiêu chuẩn Thực hiện theo lộ trình 10 năm bắt đầu từ năm 2013 Vốn dự phòng chống hiệu ứng chu kỳ Tuỳ theo điều kiện của quốc gia: mức từ 0% - 2,5% Nguồn: http://www.basel-iii-accord.com/
  36. 36. 31 1.5.4. Khả năng tuân thủ các quy định về quản trị rủi ro ở Việt Nam Hiện nay, khi các ngân hàng trên thế giới đã đề cập tới việc áp dụng chuẩn mực Basel 3 thì các ngân hàng ở Việt Nam vẫn chưa chính thức đề cập tới việc áp dụng một chuẩn mực nào của Basel. Mặc dù các quy định trong những năm gần đây của Ngâ hàng Nhà nước (NHNN) như Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, Thong tư só 13, 19 nam 2010 cũng đã đề cập tới một số vấn đề liên quan tới các điều khoản trong hiệp định Basel nhưng vẫn ở mức rất hạn chế. Việc các ngân hàng thương mại tại Việt Nam chưa áp dụng các chuẩn mực của Basel mọt cách chính thứ c nhằm nâng cao chất lượng quản lý rủi ro trong khi các ngân hàng trên thế giới đã có những bước phát triển cao hơn sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Số liệu của các ngân hàng khác nhau có thể khác nhau, nhưng có thể thấy một điểm chung là chuẩn mực kế toán Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với chuẩn mực kế toán quốc tế. Có một thực tế đã được bàn luận nhiều là ngay cả chuẩn mực kế toán Việt Nam cũng chưa được thực hiện một cách đầy đủ ở các doanh nghiệp. Vì vậy, thiết nghĩ cần có một sự khảo sát toàn diện về khả năng tuân thủ các tiêu chuẩn của Basel 2, Basel 2 đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và chi phí khá cao. Đối với một nước có hệ thống ngân hàng mới đang ở giai đoạn phát triển ban đầu như Việt Nam, việc áp dụng Basel 2 gặp nhiều khó khăn, thách thức và mất nhiều thời gian. Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính – ngân hàng với nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng mới, việc từng bước áp dụng các chuẩn mực Basel tại Việt Nam là yêu cầu cấp thiết nhằm tăng cường năng lực hoạt động, giảm thiểu rủi ro đối với các ngân hàng thương mại và nang cao nang lự c cạnh tranh trong thị trườ ng tài chính quóc té, tạo điều kiện cho các ngân hàng Việt Nam có thể mở rộng thị trường Và cao hơn nữa là Basel 3 nói chung và khả năng tuân thủ tiêu chuẩn an toàn vốn nói riêng theo tiêu chuẩn kế toán quốc tế. Sau nữa, cần có một cuộc tổng rà soát tiêu chuẩn đáp ứng vốn chủ sở hữu phổ thông theo thông lệ quốc
  37. 37. 32 tế trên cơ sở loại trừ các khoản vốn không đủ tiêu chuẩn và có biện pháp xử lý theo lộ trình của Basel 3 để đảm bảo sự phù hợp. Bên cạnh đó, phải tính đến khả năng có một tỷ lệ vốn dự phòng chống hiệu ứng chu kỳ kinh tế thích hợp với điều kiện của nền kinh tế nước ta nhằm chủ động đối phó với những diễn biến xấu từ nội tại nền kinh tế và từ những biến động ngoại lai. Có như vậy, mới đảm bảo cho sự phát triển an toàn và vững chắc của hệ thống tài chính - ngân hàng ở nước ta, đồng thời, hướng đến việc tuân thủ các chuẩn mực của Basel 3 trên cơ sở chủ động hội nhập và hợp tác quốc tế 2. CÁC CÔNG CỤ QUẢN TRỊ RỦI RO THỊ TRƯỜNG TRƯỚC VAR 2.1. Phân tích kịch bản Là một biện pháp sử dụng cho việc đánh giá các ảnh hưởng kết hợp của các biến khác nhau (kịch bản). Kể từ khi biến có liên quan trong đầu tư liên quan đến nhau, có làm thay đổi kết hợp. Vì vậy, phân tích kịch bản hỗ trợ trong việc phân tích các trường hợp liên quan có thể xảy ra. Nó hỗ trợ các nhà sản xuất quyết định về việc xem xét các kịch bản khác nhau và ý nghĩa của họ trong việc đưa ra quyết định. Chúng ta sẽ tạo ra các kịch bản khác nhau và kiểm tra những gì chúng ta đặt ra là có đạt được hay là dưới mức mục tiêu đặt ra. Để thực hiện 1 kịch bản thì chúng ta tìm ra những hướng có thể xảy ra đối với mỗi yếu tố ( ví dụ như lãi suất, giá chứng khoán hay tỷ giá hối đoái), sau đó chúng ta sẽ ước tính dòng tiền cho mỗi kịch bản có thể xảy ra, và xem xét kết quả đó để đưa ra quyết định. Tuy nhiên cách này khó có thể thực hiện bởi vì điểm mấu chốt là khả năng dự đoán về các kịch bản đúng của chúng ta, cần phải chắc chắn về kịch bản của chúng ta đưa ra là hợp lý và không bao gồm những gì có vẻ là đúng nhưng không được kiểm chứng về sự đúng đắn đó. Và chúng ta cũng phải chắc chắn một điều rằng đó là những kịch bản đó là những gì tốt nhất mà ta có thể làm được và tất cả các kịch bản chính đã được chúng ta xem xét, phân tích kịch bản không nói cho chúng ta xác suất xảy ra của các kịch bản khác nhau. Và chú ý một điều rằng phân tích kịch bản phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố chủ quan của mỗi cá nhân và về kỹ năng của mỗi nhà phân tích
  38. 38. 33 2.2. Lý thuyết danh mục đầu tư Một cách khác để đo lường rủi ro là lý thuyết danh mục đầu tư. Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại được Harry Markowitz giới thiệu vào những năm 1950 Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại đề nghị rằng các nhà tư có thể tối thiểu hóa rủi ro thị trường cho một mức tỷ suất sinh lợi kỳ vọng bằng việc xây dựng một danh mục đầu tư đã được đa dạng hóa. Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại nhấn mạnh tính đa dạng hóa của danh mục so với việc lựa chọn các chứng khoán riêng lẻ. Markowitz đã nói đến việc lựa chọn các cổ phần không di chuyển cùng chiều với nhau thì nhà đầu tư có thể làm giảm độ lệch chuẩn tỷ suất sinh lợi như thế nào. Nhưng ông không dừng lại ở đó mà ông còn phát triển các nguyên lý cơ bản về xây dựng danh mục. Một kiểu đơn giản hóa của lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại là “đừng bỏ tất cả trứng vào một cái giỏ”. Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại đã thiết lập khái niệm “đường biên hiệu quả”. Một danh mục hiệu quả là một danh mục mà với mức tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cho sẵn thì có rủi ro là thấp nhất. Rủi ro cao hơn sẽ đi kèm với tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn. Ví dụ: một danh mục đầu tư có hai loại chứng khoán A và B, trong đó chứng khoán A có tỉ suất sinh lợi kỳ vọng rất cao đồng thời tỉ lệ rủi ro cũng cao còn chứng khoán B có tỉ suất sinh lợi thấp và tỉ lệ rủi ro cũng thấp.Vậy sự đầu tư thế nào là hợp lý? Nếu nhà đầu tư muốn thâu tóm tất cả để làm giàu nhanh chóng thì sẽ chọn đầu tư vào chứng khoán A; ngược lại nếu nhà đầu tư muốn an nhàn, không thích rủi ro sẽ chọn đầu tư vào chứng khoán B. Nhưng đó là cách chọn lựa đầu tư chứng khoán riêng lẻ, thay thế vào đó có những nhà đầu tư họ sẽ kết hợp đầu tư cả hai loại chứng khoán A và B với một tỉ lệ thích hợp nhằm thu được một tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao mà lại giảm thiểu được rủi ro, đó chính là cách thức đầu tư kết hợp nhằm tạo ra một “Danh mục đầu tư hiệu quả . Để xây dựng được một danh mục đầu tư thích hợp với lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại, các nhà đầu tư phải định giá các hiệp phưong sai giữa các lớp tài sản cũng như là đặc tính rủi ro/tỷ suất sinh lời mỗi tài sản. Lý thuyết danh mục hiện đại cho chúng ta một phưong pháp đầu tư có kỷ luật mang tính khoa học bởi vậy mà nó vẫn được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay.
  39. 39. 34 2.3. Phương thức Gap Một cách thông thường là (và vẫn phổ biến ở ngày nay) là phân tích khoảng trống (gap analysis), được phát triển lần đầu bởi những tổ chức tài chính đưa ra ý tưởng về mức độ rủi ro lãi suất. Phân tích Gap bắt đầu với việc lựa chọn một khoảng chuỗi thời gian hợp lý – 1 năm hoặc tùy. Sau đó ta xác định bao nhiêu phần của danh mục tài sản hoặc nợ sẽ được định giá lại trong thời kỳ này, và tổng số có liên quan cho chúng ta những tài sản và nợ dễ bị tác động bởi lãi suất. Khoảng cách là sự khác biệt giữa những tài sản và nợ đó, và mức độ lãi suất của chúng ta được đưa thành thay đổi trong thu nhập lãi suất ròng xảy ra để phản hồi thay đổi trong lãi suất. Điều này được giả định bằng nhau đối với khoảng thời gian lãi suất thay đổi. ∆NII = (GAP)∆r Trong đó ∆NII là thay đổi trong thu nhập lãi suất ròng và ∆r là sự thay đổi trong lãi suất. Phương pháp Gap đơn giản để áp dụng, nhưng có những hạn chế: nó chỉ áp dụng cho rủi ro lãi suất trên bảng cân đối tài sản; nó nhìn vào tác động của lãi suất đối với thu nhập hơn là đối với giá trị của tài sản và nợ; và kết quả có thể dễ biến động đối với sự lựa chọn khoảng chuỗi thời gian. 2.4. Phân tích thời kỳ Một phương pháp truyền thống khác thường được dùng bởi các tổ chức tài chính cho việc đánh giá rủi ro lãi suất là phương pháp thời kỳ. Khoảng thời gian D của một trái phiếu (hoặc bất kỳ một chứng khoán có thu nhập cố định nào) có thể được định nghĩa là kỳ hạn trung bình có điều chỉnh đến kỳ hạn thanh toán của dòng thu nhập từ trái phiếu, nơi tổng là hiện giá của mỗi dòng tiền có liên quan đến hiện giá của tất cả các dòng tiền. D = ∑ (𝑖 ∗ 𝑃𝑉𝐶𝐹𝑖)/ ∑ 𝑃𝑉𝐶𝐹𝑖𝑛 𝑖=1 𝑛 𝑖=1 Trong đó PVCFi là hiện giá dòng tiền trong khoảng thời gian i, được chiết khấu tại một khoảng thời gian lợi tức thích hợp. Đo lường thời kỳ rất hữu ích
  40. 40. 35 bởi vì nó đưa ra một chỉ dẫn xấp xỉ của sự biến động giá trái phiếu đối với sự thay đổi trong cổ tức. % thay đổi trong giá trái phiếu ≈ −D ×∆y/(1 + y) Trong đó y là lợi tức, ∆y là sự thay đổi trong lợi tức. Khoảng thời gian càng dài, sự thay đổi trong giá trái phiếu càng lớn để đáp lại sự thay đổi trong cổ tức. Phương pháp thời kỳ rất thuận tiện bởi vì đo lường thời kỳ dễ tính toán và thời kỳ của một danh mục trái phiếu là một trung bình có điều chỉnh của khoảng thời gian của những trái phiếu riêng lẻ trong danh mục đó. Nó cũng tốt hơn phân tích Gap bởi vì nó xem xét sự thay đổi trong giá trị tài sản (nợ), hơn là chỉ sự thay đổi trong thu nhập ròng. Tuy nhiên, phương pháp thời kỳ cũng có vài hạn chế so với phân tích Gap: chúng bỏ qua những rủi ro khác hơn rủi ro lãi suất, thậm chí với những cải thiện để nâng cao độ chính xác, phương pháp thời kỳ vẫn không chính xác, liên hệ với những phương pháp gần đây hơn đối với phân tích thu nhập cố định. Tuy nhiên, nguyên nhân chính trong việc sử dụng phương pháp thời kỳ trong quá khứ, sự dễ dàng trong tính toán của nó, không còn chiếm vị trí quan trọng, kể từ khi càng có nhiều mô hình tinh vi được lập trình vào máy tính để đưa người dùng các kết quả chính xác hơn một cách nhanh chóng. 2.5. Phòng ngừa Delta Chúng ta đã được nghiên cứu về Delta quyền chọn ở chương trước, đây chính là thay đổi trong giá quyền chọn chia cho thay đổi trong giá của chứng khoán cơ sở. Khái quát hơn, Delta là một biến số biểu diễn mối quan hệ giữa giá trị của công cụ phái sinh (hoán đổi, quyền chọn, kỳ hạn…) và giá của tài sản cơ sở. Delta Δ = ∂ f/∂ S Vì vậy Δ f=Δ x ΔS (nếu ΔS là rất nhỏ). Khi các nguồn gốc dẫn đến rủi ro của tài sản cơ sở (có thể kể đến như lãi suất, tỷ giá hoặc giá hàng hóa) biến động sẽ cho thấy những thay đổi trong giá trị các vị thế của công cụ phái sinh và tài sản
  41. 41. 36 giao ngay. Nếu ta lập một danh mục với các vị thế khác nhau của các chứng khoán phái sinh cũng như tài sản sao cho delta (danh mục) = 0. Điều này gọi là phòng ngừa delta (delta hedge). Một vị thế được phòng ngừa delta được gọi là trung lập delta (Delta-neutral). Đây là chiến lược nhằm bảo hộ danh mục đầu tư bằng cách mua (long position) hay bán (short position) thường xuyên chứng khoán cơ sở sao cho Delta của danh mục đầu tư lúc nào cũng xấp xỉ bằng 0. Trong trường hợp này, giá trị danh mục đầu tư không bị ảnh hưởng bởi xu hướng giảm giá hay tăng giá của chứng khoán cơ sở. Danh mục có delta = 0 được gọi là danh mục dung hoà delta. Đối với các danh mục dung hoà delta để tránh phải điều chỉnh danh mục, giảm chi phí thì ta tính toán sao cho gamma bằng 0. Gamma là phần thay đổi của delta ứng với một mức thay đổi rất nhỏ trong giá tài sản cơ sở (phần này sẽ được trình bày tiếp theo Delta hedge). Xem xét một ví dụ đơn giản. Vào lúc t = 0, C1 và C2 là hai quyền mua một chứng khoán cơ sở S và có thời hạn hiệu lực T1 và T2. Delta ΔC1 của C1 là 0,6 và delta ΔC2 của C2 là 0,3. Ta thử đánh giá vị thế đầu tư bao gồm hai quyền mua C1 và C2, n số lượng C1 được mua (n > 0) hay được bán (n < 0) và m số lượng C2 được mua hay được bán vào ngày hôm nay. Ta biết rằng một quyền mua ở vị trí ITM khi 0,5 < delta < 1 và ở vị trí OTM khi 0 < delta < 0,5. Vậy C1 là quyền chọn cao giá ITM và C2 là quyền chọn kiệt giá OTM. Vì thế ta nên mua số lượng là n call C1 và bán m call C2. Và cho vị thế đầu tư là trung lập delta, ta mua và bán sao cho n ΔC1 + m ΔC2 = 0  0,6 n + 0,3 m = 0  n = –2 m Điều này có nghĩa là ta tiến hành mua n C1 và bán 2n C2. Và lưu ý rằng phòng ngừa Delta cần phải được điều chỉnh một cách định kỳ để duy trì tính trung lập của phòng ngừa. Trên đây ta vừa thực hiện một phòng ngừa vô cùng đơn giản chỉ gồm mua và bán quyền chọn mua, thực tế sẽ khó có thể thực hiện được. Ta xét tới ví dụ
  42. 42. 37 cụ thể và thực tế hơn. Một người thực hiện phòng ngừa bằng cách thực hiện vị thế hoán đổi lãi suất 4 năm (vốn 10 triệu $) trong đó sẽ thanh toán lãi suất cố định và nhận lãi suất thả nổi, thanh tóa trên hoán đổi 1 lần/năm; đồng thời bán quyền chọn mua lãi suất 3 năm với lãi suất 12%/năm (vốn 8 triệu $). Với hai công cụ này, tài sản cơ sở là lãi suất LIBOR. Cấu trúc kỳ hạn hiện hành và lãi suất kỳ hạn cho trong bảng Kỳ hạn (ngày) LIBOR Thừa số chiết khấu 360 0,10 1/(1+0,1*(360/360))=0,9091 720 0,1161 1/(1+0,1161*(720/360))=0,811 6 1080 0,13 1/(1+0,13*(1080/360))=0,7195 1440 0,1434 1/(1+0,1434*(1440/360))=0,63 55 Với q=360/360, lãi suất cố định là: R= 1 ( 1- B0(tn) ) = 1 – 0,6355 = 0,1185 q ∑ B0(ti) 0,9091 + 0,8116 + 0,7195 + 0,6355 Với các nhập liệu khác X = 0,12, T = 3, σ = 0,147, rc = 0,1098 sử dụng mô hình Black ta tính được phí quyền chọn là $73.745. Trong ví dụ này, tài sản cơ sở chính là lãi suất LIBOR. Ta tính Delta bằng cách tái định giá 2 công cụ khi lãi suất giao ngay một thời kỳ và lãi suất kỳ hạn biến động 1 điểm cơ bản, khi đó lãi suất giao ngay một kỳ hạn mới là 10,01%, lãi suất kỳ hạn mới là 12,02%, 12,82% và 13,22%; lãi suất giao ngay: 11,01%, 11,61% và 12,01%. Bảng 2.5. Delta quyền chọn và hoán đổi
  43. 43. 38 Công cụ phái sinh Hoán đổi 4 năm LS cố định 0,1185 Quyền chọn mua 3 năm LS thực hiện 0,12 Thay đổi trong LIBOR + 0,0001 - 0,0001 + 0,0001 - 0,0001 Giá trị mới $ 2.130 - $ 2.131 $ 73.989 $ 73.501 Lãi hoặc lỗi $ 2.130 - $ 2.131 $ 244 - $ 244 Delta ước tính (2.130 – (–2.131))/2 = $ 2.130,5 (244 – (–244))/2 = $ 244 Vì đang ở vị thế mua hoán đổi (thanh toán lãi suất cố định và nhận lãi suất thả nổi) nên nhà kinh doanh có được một Delta dương $ 2.130,5 nhưng đồng thời cũng cũng nhận được một Delta âm $ 244 do ở vị thế bán quyền chọn mua. Như vậy Delta của tổng vị thế là $ 2.130,5 - $ 244 = $ 1.886,5. Nghĩa là nếu lãi suất thả nổi tăng 1 điểm cơ bản thì sẽ lời $ 1.886,5 và ngược lại khi lãi suất giảm. Để phòng ngừa tổng vị thế trong, chúng ta phải tìm ra được một công cụ sẽ bị lỗ $ 1.886,5 khi lãi suất tăng và lời khi lãi suất giảm. Giao dịch phòng người điển hình nhất là giao dịch các hợp đồng giao sau Eurodollar. Các hợp đồng này dựa trên giao dịch khoản ký quỹ $ 1 triệu kỳ hạn 3 tháng và giá của chúng biến động ngược chiều với lãi suất. Xét trường hợp lãi suất tăng 1 điểm cơ bản delta là – $ 1.000.000 x 0.0001 x (90/360) = – $ 25 (tất nhiên lãi suất giảm thì delta dương). Hợp đồng Eurodollar đặc biệt hấp dẫn các nhà giao dịch sử dụng chúng để phòng ngừa rủi ro vì các hợp đồng dạng này có tính thanh khoản cực kỳ cao (hợp đồng Eurodollar được thanh toán bằng tiền mặt). Hợp đồng giao sau không giống như quyền chọn, các hợp đồng giao sau không đòi hỏi tiền mặt trả trước cho phí quyền chọn và yêu cầu ký quỹ rất thấp. Để bù đắp rủi ro cần tạo ra một khoản lỗ bằng $1.886,5 từ việc thực hiện hợp đồng giao sau, số lượng hợp đồng sẽ là -$1.886,5 : (-$25) = 75,46 ≈ 75 (do

×