Ce diaporama a bien été signalé.
Nous utilisons votre profil LinkedIn et vos données d’activité pour vous proposer des publicités personnalisées et pertinentes. Vous pouvez changer vos préférences de publicités à tout moment.

Chẩn đoán bệnh lý sọ não trên phim cắt lớp vi tính

39 156 vues

Publié le

Tài liệu bệnh lý trên phim CT sọ não

Publié dans : Santé & Médecine
  • Soyez le premier à commenter

Chẩn đoán bệnh lý sọ não trên phim cắt lớp vi tính

  1. 1. CHẨN ĐOÁN BỆNH LÝ SỌ NÃO TRÊN PHIM CẮT LỚP VI TÍNH 1. Đại cương. Nhờ có độ phân giải cao và ảnh hiển thị trên bình diện cắt ngang nên phim chụp cắt lớp vi tính (CLVT) có thể cho thấy rõ những thay đổi cả về hình thể lẫn cấu trúc của các tạng, nhất là các tạng đặc và đặc biệt là mô não. Những tổn thương ở não có thể nhận biết được là máu tụ nội sọ, các ổ nhồi máu, u não, áp xe não, di bào ung thư ở não và các quá trình bệnh lý gây tắc lưu thông dịch não tủy, teo não... Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, một dấu hiệu X quang có thể gặp trong nhiều tổn thương bệnh lý khác nhau. Vì vậy, để xác định nguyên nhân của bệnh, nhất thiết thầy thuốc X quang phải nắm vững chẩn đoán lâm sàng kèm theo. 2. Kỹ thuật chụp CLVT sọ não. 2.1. Kỹ thuật chụp CLVT: Thông thường có 3 phương pháp chụp: + Các lớp cắt song song với đường hốc mắt - lỗ tai (OML - orbitomeatal line): đây là hướng cắt thông dụng nhất giúp bộc lộ rõ hai bán cầu đại não, tiểu não và hệ thống các não thất. Mỗi lớp cắt có độ dày 10 mm, khoảng cách giữa các lớp cắt là 10 mm. Trong trường hợp cần xem xét bệnh lý của ống tai trong, cần đặt lớp cắt đi qua xương đá với độ dày lớp cắt từ 3mm đến 5mm và bước nhảy cũng tương tự. + Hướng cắt chếch với đường hốc mắt - lỗ tai một góc 20 - 250 về phía đầu: để bộc lộ khu vực hậu nhãn cầu, dây thần kinh số II, lớp cắt dày từ 1 đến 5 mm và bước nhảy cũng từ 1 đến 5 mm. + Hướng cắt theo mặt phẳng trán (coronal): để thực hiện hướng cắt này, người ta có thể đặt bệnh nhân nằm ngửa, đầu ngửa tối đa, cổ ưỡn ra sau giống như tư thế chụp nền sọ (tư thế Hirtz) hoặc cho bệnh nhân nằm sấp,
  2. 2. ưỡn cằm tối đa. Hướng cắt sẽ song song với mặt phẳng trán - cằm. Đây là tư thế thuận lợi để nhìn rõ hệ thống xoang mặt, xoang sàng, xoang bướm, đặc biệt là hố yên trên bình diện dọc. Ảnh định hướng theo mặt phẳng trán (coronal) Ảnh định hướng theo mặt phẳng truc (axial) 2.2. Kỹ thuật chụp CLVT sọ não có sử dụng thuốc cản quang tiêm tĩnh mạch: Thuốc cản quang được sử dụng là loại iod tan trong nước, giống như các loại cản quang dùng trong chụp thận thuốc tĩnh mạch, liều lượng từ 1 - 1,5 ml/kg thể trọng với tốc độ tiêm khoảng 1ml/giây đến 3ml/giây. Chụp cắt lớp được tiến hành ngay sau khi tiêm hết thuốc. Kỹ thuật này được chỉ định với mục đích đánh giá tình trạng tưới máu của ổ bệnh lý trong các trường hợp cần phân biệt chẩn đoán giữa các ổ bệnh lý như u não, di căn não, áp xe não, máu tụ mãn tính dưới hoặc ngoài màng cứng... 2.3. ảnh CLVT sọ não mở cửa sổ xương:
  3. 3. Để nhận định các thay đổi ở các xương sọ như: u xương sọ, khuyết xương sọ, các đường rạn vỡ xương, lún xương sọ, ảnh chụp phải mở cửa sổ xương (cửa sổ bậc thang xám). Cửa sổ xương có các thông số: WW (Window Width) từ 1000 đến 1500; WL (Window level) từ 400 đến 500. 3. Hình ảnh chụp CLVT sọ não bình thường. 3.1. Mô não: ở hai bán cầu ta có thể thấy rõ trên phim các thành phần chất xám và chất trắng. + Chất xám: nằm ở ngoại vi bán cầu não, thường có tỷ trọng từ 40 - 50 HU, xen kẽ giữa các vùng chất xám là các rãnh cuộn não có tỷ trọng thấp đi từ ngoại vi sát bản trong xương sọ vào vùng chất xám. Có hai rãnh sáng to nằm vùng thái dương là hai rãnh của bể đảo (rãnh Sylvius). + Chất trắng: có tỷ trọng thấp hơn chất xám (thường từ 30 - 35 HU), nằm sát vùng trung tâm 2 bán cầu, nhất là ở các lớp cắt qua gần vùng đỉnh. + Các nhân xám dưới vỏ: phim chụp CLVT có thể cho thấy rõ: - Đầu nhân đuôi có tỷ trọng cao hơn mô não bên cạnh (sát bờ ngoài sừng trán não thất bên). - Nhân bèo và vùng đồi thị nằm ở hai bên não thất III. + Bao trong: là khu vực nằm giữa đồi thị, nhân bèo và đầu nhân đuôi. + Vách trong suốt: nằm giữa 2 sừng trán (phải và trái). Rãnh dọc chính giữa 2 bán cầu là rãnh liên bán cầu trùng với liềm đại não (Falx cerebri), hai bên phía trước là thùy trán và phía sau là thùy chẩm. 3.2. Hệ thống các não thất: Vì có tỷ trọng của dịch nên các não thất tạo nên những vùng giảm tỷ trọng hơn so với mô não. + Não thất bên có thể thấy rõ trên các lớp đi qua tuyến tùng, gồm có: sừng trán phải và trái, sừng chẩm phải và trái. Các sừng của não thất thường cân
  4. 4. đối và đối xứng nhau qua đường giữa. Nhiều trường hợp do đặt tư thế bệnh nhân không cân đối nên hệ thống não thất hai bên có thể có sự chênh lệch chút ít. + Não thất III: nằm trên đường giữa, đoạn từ sừng chẩm đến sừng trán. + Não thất IV: nằm trên đường giữa và ở giữa 2 bán cầu tiểu não. 3.3. Tiểu não: Thấy rõ ở lớp cắt đi qua nền sọ: chính giữa 2 bán cầu tiểu não có thùy nhộng, chạy từ trước ra sau. Sơ đồ 6 lớp cắt cơ bản của sọ não 3.4. Các nốt vôi hoá ở não: ở người bình thường, trên phim chụp CLVT có thể thấy rõ các nốt vôi hoá sau: + Nốt vôi hoá của tuyến tùng: xuất hiện rất sớm, có thể từ tuổi thứ 10 trở đi. Vị trí nốt vôi hoá nằm chính giữa, ngang bể tĩnh mạch lớn ngay sau não thất III. + Vôi hoá ở đám rối mạch mạc (plexus choroideus): tạo nên hai đám vôi hoá nằm ngang sau sừng chẩm của não thất bên và thường đối xứng nhau.
  5. 5. Tuy nhiên, nhiều trường hợp ở người bình thường có thể không thấy hình ảnh vôi hoá ở tuyến tùng cũng như ở đám rối mạch mạc. + Vôi hoá hạch đáy: thường nằm đối xứng ở hai bên não thất III. + Vôi hoá liềm đại não: nằm trên đường giữa, rãnh liềm đại não. 3.5. Hệ thống các bể não (cysterna): Có thể thấy rõ trên phim chụp CLVT, các bể não chứa dịch não tủy nên tỷ trọng thấp. Dịch não tủy ở các bể não lưu thông với khoang dưới nhện nên trong trường hợp xuất huyết khoang dưới nhện, máu sẽ tràn vào các bể não làm cho tỷ trọng tăng lên (tỷ trọng máu). 3.6. Rãnh cuộn não: Các rãnh cuộn não tạo nên những đường giảm tỷ trọng nhỏ chạy từ bản trong xương sọ vào mô não. Các rãnh cuộn não thường chạy ngoằn ngoèo và thấy rõ nhất ở các lớp cắt đi qua vùng đỉnh. Trong những trường hợp teo não cùng với dấu hiệu giãn to các não thất, rãnh cuộn não cũng trở nên rộng (rãnh cuộn não bình thường có chiều rộng dưới 5 mm). 4. Những dấu hiệu bệnh lý căn bản ở não trên phim chụp CLVT. 4.1. Hình ảnh khối choán chỗ ở não: Khối choán chỗ ở não có thể là do u não, khối máu tụ nội sọ (dưới màng cứng, ngoài màng cứng, trong mô não), ổ xuất huyết não, phù não hoặc ổ áp xe não... Hình ảnh trên phim thể hiện bằng các dấu hiệu trực tiếp và gián tiếp. Đôi khi cả 2 dấu hiệu cùng tồn tại nhưng nếu chỉ có một dấu hiệu thì việc chẩn đoán khó khăn hơn. + Dấu hiệu trực tiếp là sự thay đổi tỷ trọng: có thể khối phát triển gây tăng tỷ trọng hoặc giảm tỷ trọng so với mô não, đôi khi tỷ trọng của u lại không khác biệt so với tỷ trọng của mô não (đồng tỷ trọng). + Dấu hiệu gián tiếp: gây hiệu ứng khối choán chỗ (mass effect). Biểu hiện như sau:
  6. 6. - Chèn ép các não thất: quá trình chèn ép có thể gây biến dạng làm mất hẳn một vùng hoặc toàn bộ não thất bên. Tùy vị trí và mức độ, khối phát triển có thể chèn đẩy vào não thất III, não thất IV lệch khỏi vị trí giải phẫu bình thường sang phía đối diện. - Giãn não thất: khi khối phát triển nằm trên vị trí lưu thông của dịch não tủy sẽ làm giãn các não thất trên chỗ tắc: chèn vào lỗ Monro, cống Sylvius hoặc não thất IV. - Chèn đẩy các nốt vôi hoá sinh lý bình thường ở não như: vôi hoá của tuyến tùng hoặc đám rối mạch mạc sang phía đối diện. - Chèn đẩy đường giữa (đường liên bán cầu): tùy mức độ khối bệnh lý, đường giữa có thể bị đẩy lệch sang phía đối diện nhiều hay ít. Tuy nhiên, nếu khối chèn ép ở cao phía vùng đỉnh thì dấu hiệu chèn ép đường giữa sẽ không rõ ràng vì đường giữa ở đây được cố định bởi liềm đại não vào bản trong của xương sọ. 4.2. Hình ảnh thay đổi tỷ trọng của mô não: + Tăng tỷ trọng (hyperdense): vùng tăng tỷ trọng có thể thuần nhất hoặc không thuần nhất, thường do các nguyên nhân như ổ máu tụ, đám xuất huyết hoặc một dạng của u não, điển hình là u màng não (meningioma). + Giảm tỷ trọng (hypodense): thường gặp trong ổ nhồi máu não, áp xe não hoặc đám di căn ung thư ở não, phù não và một số dạng u não điển hình là u tế bào hình sao. + Nốt vôi hoá: một số trường hợp u não có xuất hiện một số nốt vôi hoá trong u như u sọ hầu (craniopharyngeoma) hoặc u thần kinh đệm ít nhánh (oligodendroglioma), hoặc hình ảnh các nốt vôi hoá rải rác ở não do sán não ở giai đoạn di chứng. + Đồng tỷ trọng (isodense): một số trường hợp bệnh lý, tỷ trọng của não không thay đổi đáng kể so với mô não lành.
  7. 7. 4.3. Dấu hiệu tổn thương xương hộp sọ và khối xương mặt: Các dấu hiệu về rạn, lún xương sọ, tiêu xương sọ, khuyết xương sọ và các bệnh lý khác của xương sọ đều có thể dễ nhận thấy được trên phim chụp CLVT khi mở cửa sổ xương. ảnh chụp mở cửa sổ xương còn đánh giá tình trạng dính sớm các đường khớp trong hẹp hộp sọ ở trẻ nhỏ. Phim chụp CLVT có vai trò đặc biệt quan trọng trong đánh giá các tổn thương ở khối xương mặt. Nhờ các đường cắt ngang qua khối xương mặt nên các đường gãy ở xương gò má được bộc lộ một cách chi tiết về số lượng đường gãy, các mảnh xương rời và tình trạng di lệch của các đường gãy. 5. Mục đích và chỉ định chụp CLVT sọ não. + Chấn thương sọ não: chụp CLVT nhằm phát hiện: - Máu tụ nội sọ, tình trạng phù nề mô não kèm theo do giập não. - Các đường vỡ rạn, vỡ lún của xương sọ và khối xương mặt hàm. - Tràn khí não (từ các xoang). - Dị vật kim khí nội sọ. + Tai biến mạch máu não: có thể thấy những dấu hiệu: - Xuất huyết não. - Nhồi máu não. + U não: - Các loại u nguyên phát và di bào ung thư vào não. - U hậu nhãn cầu, u dây thần kinh số II và các nguyên nhân khác gây lồi nhãn cầu. - Hội chứng góc cầu - tiểu não và u dây thần kinh số VIII. + Teo não. + Sán não. + áp xe não. + Hẹp sọ.
  8. 8. 6. Hình ảnh CLVT một số bệnh lý thường gặp ở não. 6.1. Máu tụ nội sọ: Khối máu tụ trước khi phẫu thuật và sau khi chọc hút khối máu tụ 6.1.1. Các ổ máu tụ nội sọ gây nên do nguyên nhân chấn thương: Thường có 2 dạng: + Máu tụ ngoài màng cứng (epidural hematoma): ổ máu tụ ngoài màng cứng cho thấy một vùng tăng tỷ trọng nằm sát bản trong xương sọ, có dạng thấu kính 2 mặt lồi. Một mặt lồi áp sát bản trong xương sọ, một mặt lồi về phía nhu mô não. ổ máu tụ có mật độ cản quang thuần nhất và thấy rõ ở những ngày đầu. Tỷ trọng đo được thường khoảng 60 - 90 HU. Nếu ổ máu tụ kích thước lớn không được phẫu thuật, lâu ngày sẽ dịch hoá, tỷ trọng của nó có thể đồng hoặc giảm hơn mô não. Các ổ máu tụ kích thước bé có thể bị hấp thu. + Máu tụ dưới màng cứng (subdural hematoma): ổ máu tụ dưới màng cứng cho thấy hình tăng tỷ trọng dạng hình liềm, một mặt lồi áp sát bản trong xương sọ, một mặt lõm về phía mô não. Máu tụ dưới màng cứng, lúc đầu
  9. 9. cũng có tỷ trọng như máu tụ ngoài màng cứng, về sau ổ máu tụ bị hấp thu, hoá giáng tạo nên một vùng đồng tỷ trọng hoặc giảm tỷ trọng với mô não, khó nhận biết trên phim chụp không tiêm thuốc cản quang. Máu tụ dạng này được gọi là ổ máu tụ mãn tính. Máu tụ mãn tính tiến triển qua nhiều giai đoạn, thường được tạo nên sau chấn thương khoảng sau 3 tuần. Cả hai dạng máu tụ dưới màng cứng và ngoài màng cứng nếu với kích thước lớn, đều có thể gây hiệu ứng khối choán chỗ, gây chèn đường giữa và hệ thống não thất. Đôi khi tương ứng với các vị trí của ổ máu tụ là một đường giập vỡ xương sọ. Nhưng có khi hoàn toàn không có vỡ xương sọ, thậm chí có khi đường vỡ xương sọ lại xuất hiện ở đối diện với ổ máu tụ theo cơ chế lực phản hồi (contre coupe). 6.1.2. Xuất huyết trong mô não: Hiện tượng xuất huyết ở tổ chức não có thể tạo nên do chấn thương nhưng phần lớn là do nguyên nhân bệnh lý nội khoa. + Do bệnh lý nội khoa: Xuất huyết trong nhu mô não trước hết phải kể nguyên nhân thường gặp là đột qụy xuất huyết não do cao huyết áp, xơ vữa động mạch, sau đó là các bệnh lý khác như dị dạng mạch máu não (AVM = Arterio venous malformation), còn có tên là u máu (hemangioma). Ngoài ra, trong một số trường hợp xuất huyết não có thể xảy ra trên một u não, nhất là u ác (hiện tượng xuất huyết trong u). Vị trí của ổ xuất huyết não do cao huyết áp xơ vữa động mạch thường gặp là ở vùng bao trong và các nhân xám trung ương như ở đồi thị hoặc đôi khi ở thân não, tiểu não và gặp với tỷ lệ không nhiều ở mô não. Ngược lại các ổ xuất huyết do dị dạng thông động - tĩnh mạch não thường gặp ở vùng mô não (sát ngoại vi bán cầu), còn xuất huyết do vỡ túi phồng động mạch thường chảy vào khoang dưới nhện. Hình ảnh CLVT cho
  10. 10. thấy tăng tỷ trọng ở các rãnh cuộn não, các bể não (bể quanh cầu, bể đảo) và rãnh liên bán cầu (đường giữa). Các ổ xuất huyết não kích thước lớn đều gây nên hiệu ứng khối choán chỗ chèn não thất, đường giữa... Tỷ trọng ổ xuất huyết thường cao ở giai đoạn đầu (khoảng 60 - 90 HU), mật độ thuần nhất. Xung quanh ổ xuất huyết thường có quầng giảm tỷ trọng do phù nề. Các ổ xuất huyết não lâu ngày có thể được hấp thu hoặc hoá giáng tạo nên những ổ dịch (Hygroma) hoặc bị xơ sẹo tạo nên vùng có tỷ trọng thấp hơn mô não bình thường và gây co kéo các não thất bên cạnh. Chẩn đoán phân biệt khối tăng tỷ trọng do xuất huyết não với các hình ảnh bệnh lý khác ở não cần căn cứ thêm về lâm sàng. + Xuất huyết do giập não trong chấn thương: xuất huyết ở mô não do giập não do nguyên nhân chấn thương thường xảy ra ở vùng não sát xương sọ tương ứng với vùng sọ bị va đập, tuy nhiên cũng có khi vùng não thương tổn lại đối diện với vị trí bị va đập. Đó là cơ chế của lực phản hồi trong chấn thương sọ não. Hình ảnh CLVT cho thấy giữa một vùng mô não bị giảm tỷ trọng do phù nề có những nốt tăng tỷ trọng dạng xuất huyết. Đám tổn thương có hiệu ứng khối do phù nề. 6.1.3. Xuất huyết não thất: Xuất huyết não thất có thể xảy ra sau xuất huyết ở mô não (xuất huyết não thất thứ phát), thường hay gặp sau xuất huyết đồi thị vì đồi thị nằm sát ngay bờ ngoài của não thất bên. Xuất huyết não thất cũng có thể là nguyên phát, thường xảy ra do vỡ phình mạch trong dị dạng mạch máu não. Xuất huyết não thất có thể xảy ra ở hệ thống não thất một bên hoặc cả hai bên. 6.1.4. Xuất huyết khoang dưới nhện (subarachnoid hemorrhage): Nguyên nhân của xuất huyết khoang dưới nhện có thể là do chấn thương hoặc bệnh lý, đặc biệt thường gặp trên lâm sàng là do vỡ các ổ phình mạch
  11. 11. não (aneurysm). Phim chụp CLVT cho thấy tỷ trọng tăng cao ở các bể não, rãnh cuộn não (sulcus), rãnh Sylvius, rãnh liên bán cầu (falx cerebri). Đôi khi xuất huyết khoang dưới màng nhện có thể phối hợp với xuất huyết não thất. 6.2. Nhồi máu não (thiếu máu cục bộ ở não): Nhồi máu não hay thiếu máu cục bộ não xảy ra khi một mạch máu não bị tắc. Khu vực không được nuôi dưỡng sẽ bị huỷ hoại, nhũn ra (trước đây gọi là tai biến nhũn não). 6.2.1. Nguyên nhân gây thiếu máu cục bộ: Có 3 nguyên nhân lớn: huyết khối mạch, co thắt mạch và nghẽn mạch. Huyết khối mạch (thrombosis): Do tổn thương thành mạch tại chỗ, chủ yếu gồm: Xơ vữa động mạch do cao huyết áp, viêm động mạch. Co thắt mạch (vasoconstriction): Co thắt mạch thường xuất hiện sau xuất huyết dưới nhện, co thắt mạch não hồi phục nguyên nhân do sau chấn thương, sau sản giật, co thắt mạch sau đau nửa đầu. Nghẽn mạch (embolisme): do cục tắc từ một mạch ở xa não bong ra đi theo tuần hoàn lên não đến chỗ lòng mạch nhỏ hơn sẽ nằm lại gây tắc mạch. nguyên nhân do tim như: bệnh van tim, rung nhĩ, tim bẩm sinh, bệnh tim mắc phải sau nhồi máu cơ tim, sùi loét, loạn nhịp tim, viêm nội tâm mạc cấp do vi khuẩn, huyết khối động mạch cảnh. Ngoài ra có thể gặp trong những trường hợp biến chứng ở sản phụ mới sinh. 6.2.2. Hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT): Hình ảnh điển hình trên phim chụp CLVT của nhồi máu khu vực vỏ não là một vùng giảm tỷ trọng mang đặc điểm tủy - vỏ não theo sơ đồ cấp máu của một động mạch não hoặc một nhánh của động mạch não. Vùng giảm tỷ
  12. 12. trọng thường có hình thang, diện rộng, chiếm gần hết thùy thái dương (do nhồi máu của động mạch não giữa), hình tam giác đáy ngoài (do nhồi máu một nhánh của động mạch não giữa), hình chữ nhật sát đường giữa (do nhồi máu của động mạch não trước) hoặc hình dấu phẩy (do nhồi máu vùng sâu). Khu vực giảm tỷ trọng thay đổi theo thời gian, tuần 1 thấy giảm tỷ trọng không rõ bờ, có khi giảm tỷ trọng không đồng đều, theo một số tác giả là do có chảy máu nhỏ trong vùng bị nhồi máu. Tuần 2 thấy rõ bờ vùng giảm tỷ trọng rõ dần. Cấu trúc vùng bệnh lý trở nên đồng tỷ trọng tạm thời với mô não trong tuần thứ 2 đến tuần thứ 3 (hiệu ứng sương mù- togging effect), được giải thích là do xuất hiện những ổ xuất huyết nhỏ trong đám nhồi máu. Một số ổ nhồi máu ở giai đoạn trung gian có ngấm cản quang, gây khó khăn trong chẩn đoán phân biệt với u não. Sau một tháng diện giảm đậm thu nhỏ hơn, bờ rõ hơn và đậm độ cũng giảm xuống gần với độ dịch (giai đoạn hình thành kén nhũn não). Dấu hiệu choán chỗ thường xuất hiện ở tuần đầu và giảm dần theo thời gian. Vùng nhồi máu rộng có dấu hiệu choán chỗ nhiều hơn, nhưng mức độ choán chỗ ít khi mạnh như trong u não và áp xe não. Khi đã hình thành kén nhũn não, sẽ có tình trạng giãn khu trú và co kéo phần não thất sát với ổ kén cũng như hình ảnh rộng và sâu hơn của các rãnh cuộn não tương ứng với khu vực thiếu máu. Các dấu hiệu này thể hiện teo não cục bộ sau nhồi máu. + Chảy máu trong vùng nhồi máu còn gọi là vùng nhồi máu đỏ có thể gặp ở từ 10 - 12% các nhồi máu não. + Nhồi máu ổ khuyết: gặp ở người có tuổi, tăng huyết áp và xơ vữa động mạch với những hội chứng ổ khuyết trên lâm sàng thần kinh. Hình chụp cắt lớp vi tính hay gặp là những ổ giảm tỷ trọng nhỏ ở bao trong và các nhân xám trung ương hoặc cạnh thân não thất bên, kích thước ổ giảm đậm này thường dưới 15 mm, hay gặp hơn các ổ dưới 10 mm, các ổ khuyết cũ dưới 5
  13. 13. mm. Những ổ khuyết quá nhỏ không thấy được trên ảnh cắt lớp. Trên một bệnh nhân có thể gặp nhiều ổ khuyết với giai đoạn cũ mới khác nhau. Đây là dạng nhồi máu dễ bỏ qua khi chẩn đoán trên phim chụp CLVT. + Sự thay đổi tỷ trọng của mô não xảy ra trong nhồi máu thường từ từ. Vì thế giai đoạn đầu (thường trong vòng 6 giờ sau khi đột ) chụp CLVT có thể chưa thấy rõ hình ảnh bệnh lý hoặc thay đổi mô não rất kín đáo khó phân biệt với mô lành. + Hầu hết các ổ nhồi máu trên phim chụp CLVT đều không có hình ảnh của một khối choán chỗ. Tuy nhiên trong những ngày đầu có thể có hình ảnh chèn đẩy nhẹ não thất và đường giữa sang phía đối diện do hiện tượng phù nề gây nên. 6.2.3. Chẩn đoán phân biệt: + U não, đặc biệt là dạng u tế bào hình sao (astrocytoma): ổ giảm tỷ trọng trong u não dạng này thường kèm theo dấu hiệu khối choán chỗ, trong khi đó nhồi máu não thường không có hoặc đôi khi vì phù nề kèm theo nên cũng có dấu hiệu khối choán chỗ nhưng mức độ ít hơn so với u não, có thể nói mức độ chèn ép trong nhồi máu não không tương đương với thể tích vùng bệnh lý. + Di bào ung thư lên não cho thấy vùng giảm tỷ trọng rộng, thường tập trung ở chất trắng và lan toả một hoặc cả hai bên bán cầu. Trong khi nhồi máu não thường xẩy ra ở phạm vi một bên bán cầu, trong vùng mạch máu phân bổ và giảm tỷ trọng cả ở chất trắng và chất xám. Chụp sau tiêm thuốc cản quang có khi thấy một hoặc nhiều nhân di căn ngấm thuốc dạng hình nhẫn nằm giữa vùng giảm tỷ trọng. 6.3. U não: 6.3.1. Khái quát chung:
  14. 14. + Về giải phẫu bệnh, u não được phân ra rất nhiều loại tuỳ nguồn gốc xuất xứ. Thực tế lâm sàng và trên chụp cắt lớp vi tính cho thấy một số u nguyên phát thường gặp ở não đó là: u màng não, u tế bào hình sao, u nguyên tuỷ bào, u nguyên bào thần kinh đệm, u tuyến tùng, u tuyến yên... Ngoài ra còn nhũng trường hợp u di căn cũng cho hình ảnh tương đối đặc hiệu. Cùng với cộng hưởng từ, chụp cắt lớp vi tính là phương pháp tạo ảnh có giá trị cao trong chẩn đoán u não. Để góp phần chẩn đoán bản chất của loại u não ngoài thăm khám lâm sàng cần phải quan tâm đến các đặc điểm khác như tuổi, giới, vị trí của u. + Chẩn đoán u não trên CLVT cần dựa vào các dấu hiệu sau: - Hiệu ứng khối: chèn ép não thất, đẩy đường giữa, đẩy các nốt vôi hoá sinh lý, chèn tắc lưu thông dịch não tuỷ gây não úng thùy. - Tỷ trọng của vùng bệnh lý: tăng, giảm hoặc đồng tỷ trọng. - Tình trạng ngấm thuốc cản quang của khối u: ngấm mạnh thuần nhất, ngấm không thuần nhất, không ngấm hoặc ngấm hình nhẫn. 6.3.2. Đặc điểm một số u não trên phim chụp CLVT: + U màng não (meningioma): là một loại u thường gặp ở não, u tiến triển rất chậm, được phát hiện muộn, khi u đã có kích thước lớn. U ít khi thoái hoá ác tính. Vị trí thường ở ngoại vi sát bản trong xương sọ, cạnh đường giữa hoặc sát nền sọ. Thông thường hình ảnh CLVT cho thấy là khối tăng tỷ trọng thuần nhất, giới hạn rõ và có quầng giảm tỷ trọng rộng xung quanh do phù nề. Bờ u và lòng u có thể bị vôi hoá hoặc rỗng ở giữa do hoại tử. Đôi khi u màng não có thể có dạng đồng tỷ trọng hoặc giảm tỷ trọng hơn mô não, nhưng có một đặc tính chung là ngấm cản quang rất mạnh sau tiêm. + U tế bào hình sao (astrocytoma): vị trí có thể gặp ở hai bán cầu đại não, tiểu não. Hình ảnh CLVT cho thấy khối giảm tỷ trọng ở chất trắng, có hiệu ứng khối rõ, rất giống với tổn thương do di căn ung thư. Một số u tế bào
  15. 15. hình sao dạng kén có bờ tròn, nhẵn. Cần lưu ý chẩn đoán phân biệt u tế bào hình sao với ổ nhồi máu não: Vùng giảm tỷ trong do nhồi máu xảy ra ở cả một vùng vừa ở chất trắng vừa ở chất xám của mô não (hiệu ứng tủy vỏ), không có hiệu ứng khối. Trong khi u não loại giảm tỷ trọng thường chỉ xảy ra ở chất trắng và có hiệu ứng khối. + U nguyên tủy bào (medulloblastoma): là loại u gặp ở trẻ nhỏ. Vị trí ở tiểu não. Hình ảnh CLVT cho thấy khối u là khối tăng tỷ trọng không thuần nhất, bờ rõ, chèn vào não thất IV gây não úng tủy (giãn não thất III, não thất bên). + U tuyến tùng (pinealoma): u thường xuất hiện ở người trẻ. Hình ảnh CLVT là khối tăng tỷ trọng thuần nhất đôi khi có nốt vôi hoá nhỏ trong lòng u. Vị trí u nằm cạnh não thất III gây giãn não thất bên. 6.4. Một số bệnh lý khác ở não: 6.4.1. Teo não: Hình ảnh teo não có thể do bệnh lý hoặc do sinh lý của tuổi già, trong bệnh Alzheimer. Hình ảnh CLVT cho thấy giãn rộng hệ thống các não thất và các rãnh cuộn não đặc biệt là rãnh Sylvius. 6.4.2. Sán não: Sán não có hai dạng: một là kén sán (sán đang hoạt động) và các nốt vôi hoá do di chứng của sán não. Kén sán là hình ảnh các nang tròn nhỏ đường kính vài millimet, trong lòng có chấm vôi nằm lệch tâm (chính là đầu sán). Các kén sán thường nằm rải rác khắp hai bán cầu.

×