Ce diaporama a bien été signalé.
Nous utilisons votre profil LinkedIn et vos données d’activité pour vous proposer des publicités personnalisées et pertinentes. Vous pouvez changer vos préférences de publicités à tout moment.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HCM 
-------- 
TIỂU LUẬN MÔN: QUẢN TRỊ RỦI RO 
THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH 
KHOẢN CỦ...
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HCM 
-------- 
TIỂU LUẬN MÔN: QUẢN TRỊ RỦI RO 
THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH 
KHOẢN CỦ...
LỜI MỞ ĐẦU 
Trong thời kỳ hội nhập vào nền kinh tế thế giới như hiện nay thì thị trường tài chính 
giữ một vai trò vô cùng...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
MỤC LỤC 
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
2.2.3 Nguyên nhân gây RRTK của các NHTM Việt Nam trong mấy năm gần...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
DANH MỤC BẢNG 
Bảng 2.1: Vốn điều lệ của một số NHTM Việt Nam từ 2...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
PHẦN MỞ ĐẦU 
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 
Trong số những rủi ro mà các ngân ...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Bài tiểu luận sử dụng nhiều phương pháp để...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI 
RO THANH KHOẢN TRO...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
Thứ hai: công tác dự báo và phân tích thị trường của các ngân hàng...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
tức là phải đáp ứng được các nhu cầu thanh toán trong hiện tại, tư...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
những thử thách của thị trường. Những thử thách này được biểu hiện...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
Khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng: Cho vay là một tr...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
chiến lược nhằm giải quyết vấn đề thanh khoản của ngân hàng: Chiến...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
nhất, người gửi tiền dần nhận thức được khó khăn của ngân hàng và ...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH 
KHOẢN CỦA CÁC NHTM VIỆ...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
Năm 2006 - 2007 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống NHTM...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
Điểm yếu thứ hai là quy mô nhỏ của khu vực ngân hàng thương mại cổ...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
Tính đến thời điểm hiện tại hầu hết các ngân hàng thương mại đã cô...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
định tín dụng, các NHTM Việt Nam hiện nay vẫn phải thường xuyên đố...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
ngày 31/12/2008. Tinh thần chủ đạo của chỉ thị này là điều hàng ch...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
dày phát triển 52 năm, BIDV có mạng lưới rộng khắp cả nước, chỉ xế...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
Từ quý IV/2008 đến đầu năm 2009, mặc dù NHNN thực thi CSTT nới lỏn...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
Thứ hai, các NHTM Việt Nam đứng trước mối nguy về pháp luật. Khi m...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh khiến môt số DN sản xuất...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
khác ). Do vậy, mất cân đối cơ cấu kì hạn cũng tiềm ẩn RRTK. Thực ...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
Vốn điều lệ thấp, năng lực tài chính còn hạn chế, khiến các NHTM V...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
 Đầu tháng 10/2013, bắt đầu có những lời xì xào, bàn tán đầu tiên...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
toàn ngành ngân hàng ( người dân sẽ rút tiền ở tất cả các ngân hàn...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
phát tin về việc có dấu hiệu lừa đảo tại Ngân hàng Phương Nam. Ngư...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
quản trị rủi ro cũng như đặt ra những yêu cầu mới cho công tác quả...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
Thứ nhất, nhận thức về quản trị rủi ro thanh khoản của một số NHTM...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
Thứ ba, sự thiếu minh bạch, công khai hóa thông tin: Các thông tin...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ 
QUẢN TRỊ RỦI RO THAN...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
Chính phủ. Cần quy định chức năng, nhiệm vụ của từng loại hình ngâ...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
có thể xảy ra, đó là cơ cấu lại nguồn vốn huy động và cho vay trên...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
khoản thông qua việc sử dụng mô hình quản lý theo kỳ hạn của các d...
Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 
trên bảng cân đối tài sản của mình, nhằm hạn chế các tác động của ...
Tiểu luận quản trị rủi ro đề tài rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại việt nam
Tiểu luận quản trị rủi ro đề tài rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại việt nam
Tiểu luận quản trị rủi ro đề tài rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại việt nam
Tiểu luận quản trị rủi ro đề tài rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại việt nam
Prochain SlideShare
Chargement dans…5
×

Tiểu luận quản trị rủi ro đề tài rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại việt nam

7 407 vues

Publié le

  • Dating for everyone is here: ❤❤❤ http://bit.ly/369VOVb ❤❤❤
       Répondre 
    Voulez-vous vraiment ?  Oui  Non
    Votre message apparaîtra ici
  • Follow the link, new dating source: ❤❤❤ http://bit.ly/369VOVb ❤❤❤
       Répondre 
    Voulez-vous vraiment ?  Oui  Non
    Votre message apparaîtra ici
  • Nhận làm slide luận văn tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ chuyên nghiệp, giá rẻ, chuyên nghiệp. Bạn nào có nhu cầu liên hệ Miss Tươi sdt 0984990180 or mail hotrolamslide@gmail.com để được hỗ trợ.
       Répondre 
    Voulez-vous vraiment ?  Oui  Non
    Votre message apparaîtra ici
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và cao học (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ
       Répondre 
    Voulez-vous vraiment ?  Oui  Non
    Votre message apparaîtra ici

Tiểu luận quản trị rủi ro đề tài rủi ro thanh khoản tại ngân hàng thương mại việt nam

  1. 1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HCM -------- TIỂU LUẬN MÔN: QUẢN TRỊ RỦI RO THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY Giảng viên : HỒ VĂN DŨNG Lớp học phần : 210705001 Nhóm thực hiện : NHÓM 8 STT HỌ VÀ TÊN LỚP 1 Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng DHQT7B 2 Võ Nguyễn Đăng Khoa DHMK7B 3 Đỗ Văn Lẹ DHKQ8B 4 Nguyễn Thị Nga DHMK7A 5 Phạm Thị Ngoan DHQT7B 6 Đặng Thị Ngọc DHQT7B 7 Nguyễn Thị Thảo DHQT7B 8 Mai Thị Thu Trang DHMK7A TP.Hồ Chí Minh, Tháng 10 năm 2014
  2. 2. TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HCM -------- TIỂU LUẬN MÔN: QUẢN TRỊ RỦI RO THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY Giảng viên : HỒ VĂN DŨNG Lớp học phần : 210705001 Nhóm thực hiện : NHÓM 8 STT Họ và tên Lớp Mức độ đóng góp (%) Ký tên 1 Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng DHQT7B 2 Võ Nguyễn Đăng Khoa DHMK7B 3 Đỗ Văn Lẹ DHKQ8B 4 Nguyễn Thị Nga DHMK7A 5 Phạm Thị Ngoan DHQT7B 6 Đặng Thị Ngọc DHQT7B 7 Nguyễn Thị Thảo DHQT7B 8 Mai Thị Thu Trang DHMK7A TP.Hồ Chí Minh, Tháng 10 năm 2014
  3. 3. LỜI MỞ ĐẦU Trong thời kỳ hội nhập vào nền kinh tế thế giới như hiện nay thì thị trường tài chính giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Hiện nay, thị trường tài chính Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, mở ra ngày càng nhiều cơ hội cho các ngân hàng thương mại, song đi cùng nó cũng kéo theo rất nhiều rủi ro. Trong các loại rủi ro thì rủi ro thanh khoản được xem là rủi ro nguy hiểm nhất. Thanh khoản và quản lý rủi ro trong thanh khoản là yếu tố quyết định đến sự an toàn trong hoạt động của bất kỳ ngân hàng thương mại nào. Thực tế chỉ một hay hai ngân hàng gặp rủi ro về thanh khoản có thể lây lan ngay sang ngân hàng khác. Trong khi đó, bản thân một ngân hàng thương mại sẽ không đủ sức chống đỡ được rủi ro hệ thống. Điển hình là hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới lớn nhất trong một thế kỷ qua đã và đang tiếp tục tác động đến thị trường tài chính Mỹ và gây ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường tài chính của các nước khác trong đó có Việt Nam. Tại Việt Nam, sau đợt căng thẳng thanh khoản đầu năm 2008, nhờ những can thiệp của Ngân hàng Nhà nước, tình hình thanh khoản đã cải thiện đáng kể, song khó khăn vẫn còn ở phía trước. Đặc biệt, 5 tháng đầu năm 2011, tình hình thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam lại trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết. Chính vì thế, bên cạnh những hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước, các Ngân hàng thương mại cần phải quan tâm hơn nữa đến công tác quản trị rủi ro thanh khoản, không chỉ vì an toàn của chính Ngân hàng mình mà còn vì an toàn chung của hệ thống tài chính tiền tệ. Đó là lý do mà nhóm chúng em chọn đề tài: "Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam hiện nay". Ngoài ra, trên cơ sở thực trạng về rủi ro thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản trong ngân hàng thương mại nhóm chúng em sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro thanh khoản tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Rất mong được thầy tận tình góp ý chỉ bảo thêm để chúng em có thêm kinh nghiệm trong những đề tài sau này! Xin gửi lời cảm ơn đến thầy!
  4. 4. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ....................................................................................................... V LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ................................................................................................ V MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ........................................................................................... V ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ........................................................................................ V PHẠM VI NGHIÊN CỨU ............................................................................................. V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................................... VI CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM ..................................................... 1 1.1 RỦI RO THANH KHOẢN ....................................................................................... 1 1.1.1 Khái niệm thanh khoản và rủi ro thanh khoản .......................................... 1 1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản.................................................. 1 1.1.3 Tác động của rủi ro thanh khoản đến hoạt động của NHTM .................... 2 1.2 NỘI DUNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NHTM ............................. 3 1.2.1 Nhận dạng và phân tích nguyên nhân rủi ro thanh khoản ở NHTM ......... 3 1.2.2 Các phương pháp đo lường trạng thái thanh khoản của NH .................... 5 1.2.3 Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro thanh khoản ........................................... 5 1.3 VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THANH KHOẢN CỦA NHTM ................................................................................................. 7 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY .................................................................... 8 2.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ..................... 8 2.1.1 Khái quát chung ......................................................................................... 8 2.1.2 Các rủi ro thường gặp phải ..................................................................... 10 2.2 TÌNH HÌNH RỦI RO THANH KHOẢN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY ........................................................................................................ 12 2.2.1 Thực trạng rủi ro thanh khoản ................................................................. 12 2.2.2 Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam ................................................................ 15 Hội Ngộ ii
  5. 5. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng 2.2.3 Nguyên nhân gây RRTK của các NHTM Việt Nam trong mấy năm gần đây ..................................................................................................................... 17 2.3 VÀI VỤ VIỆC TIÊU BIỂU VỀ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NHTM....................... 19 2.3.1 Rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) năm 2003 ........................................................................................................... 19 2.3.2 Rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Phương Nam chi nhánh Hà Nội (2005) ................................................................................................................ 21 2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG RỦI RO THANH KHOẢN TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY ...................................................................................................... 22 2.4.1 Kết quả đạt được ...................................................................................... 22 2.4.2 Những điểm tồn tại ................................................................................... 23 2.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại ............................................................... 23 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG HỆ THỐNG CÁC NHTM VIỆT NAM .......... 26 3.1 VỀ PHÍA CHÍNH PHỦ ................................................................................... 26 3.1.1 Một ngân hàng trung ương độc lập và đủ mạnh ...................................... 26 3.1.2 Hoàn thiện hệ thống luật pháp đáp ứng yêu cầu hội nhập ...................... 26 3.1.3 Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước ... 27 3.2 VỀ PHÍA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ...................................................... 27 3.2.1 Đảm bảo vốn tự có ở mức cần thiết ......................................................... 27 3.2.2 Đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa tài sản có và tài sản nợ ................................ 27 3.2.3 Tăng cường công tác dự báo các điều kiện kinh tế vĩ mô ........................ 28 3.2.4 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống đánh giá nội bộ .................................. 28 3.2.5 Hoàn thiện và đổi mới công tác quản trị rủi ro thanh khoản .................. 28 3.2.6 Đẩy mạnh công tác huy động vốn và đa dạng hóa nguồn vốn huy động30 3.2.7 Xây dựng đội ngũ nhân viên có trình độ, năng lực và đạo đức nghề nghiệp ................................................................................................................ 31 3.2.8 Các giải pháp về công nghệ .................................................................... 31 3.2.9 Nâng cao công tác quảng cáo hình ảnh, thương hiệu Ngân hàng.......... 31 KẾT LUẬN .............................................................................................................. 32 Hội Ngộ iii
  6. 6. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Vốn điều lệ của một số NHTM Việt Nam từ 2010 – 2011 (Đơn vị: Tỷ đồng).......................................................................................................................... 18 GIẢI THÍCH TỪ NGỮ Chữ viết tắt Ý nghĩa DN Doanh nghiệp NH Ngân hàng NHNN Ngân hàng nhà nước NHTM Ngân hàng thương mại NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần NHTW Ngân hàng Trung ương NHXNK Ngân hàng xuất nhập khẩu QTRR Quản trị rủi ro QTRRTK Quản trị rủi ro thanh khoản REPO (Repossess of property) Thị trường mua bán chứng khoán RRTK Rủi ro thanh khoản SMBC (Sumitomo Mitsui Banking Corporation) Ngân hàng SMBC SWAP (Spot and forward) Nghiệp vụ hối đoái kép gồm 2 nghiệp vụ giao ngay (spot) và nghiệp vụ có kỳ hạn (forward). TCTD Tổ chức tín dụng TMCP Thương mại cổ phần TSC Tài sản Có TSN Tài sản Nợ USD Đồng đô la Mỹ WTO Tổ chức thương mại thế giới Hội Ngộ iv
  7. 7. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng PHẦN MỞ ĐẦU LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong số những rủi ro mà các ngân hàng phải đối mặt, rủi ro thanh khoản được em là đặc biệt nguy hiểm, có thể gây ra hàng loạt những tác hại nghiêm trọng cho hoạt động của ngân hàng. Tác hại lớn nhất có thể kể đến là làm cho ngân hàng bị phá sản, bị quốc hữu hóa hoặc bị sáp nhập. Như vậy công tác quản trị rủi ro về thanh khoản là không thể không được quan tâm, thậm chí nó trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà quản lý ngân hàng ở Việt Nam và thế giới. Tuy nhiên thực tế đã chứng minh không phải chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản nào cũng hợp lý và thành công. Đặc biệt đối với ngành ngân hàng ở Việt Nam, công tác quản trị rủi ro thanh khoản còn tỏ ra nhiều yếu kém, bất cập và chưa có hiệu quả. Do vậy cần có cái nhìn rõ ràng và đúng đắn hơn về công tác này và có biện pháp tổ chức giám sát thực hiện tốt hơn, tiến bộ hơn trước. Đó chính là lý do chúng em chọn đề tài này. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1) Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về công tác quản trị rủi ro thanh khoản của NHTM. 2) Phân tích thực trạng thanh khoản của các NHTM Việt Nam hiện nay và một vài vụ việc cụ thể. 3) Đưa ra một số bài học kinh nghiệm và một số biện pháp nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam hiện nay. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận này là hoạt động quản lý rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt Nam hiện nay. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Phạm vi nghiên cứu là hoạt động quản lý thanh khoản của các NHTM Việt Nam hiện nay. Hội Ngộ v
  8. 8. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Bài tiểu luận sử dụng nhiều phương pháp để nghiên cứu trong đó có thể kể đến: - Phân tích và tổng hợp - Thu thập thống kê số liệu - So sánh - Mô hình hóa - Hệ thống hóa  Kết cấu đề tài Đề tài này gồm có 3 chương như sau: Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro thanh khoản trong hoạt động của NHTM Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam hiện nay Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản trong hệ thống các NHTM Việt Nam Hội Ngộ vi
  9. 9. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 1.1 RỦI RO THANH KHOẢN 1.1.1 Khái niệm thanh khoản và rủi ro thanh khoản Khái niệm thanh khoản:  Dưới góc độ tài sản: Thanh khoản là khả năng chuyển hoá thành tiền của tài sản và ngược lại. Một tài sản được xem là thanh khoản khi đáp ứng các tiêu chí sau: Có sẵn số lượng để mua hoặc bán, có sẵn thị trường để giao dịch, có sẵn thời gian để giao dịch, giá cả hợp lý. Trong thực tế, các tài khoản có tính thanh khoản cao gồm các giấy tờ có giá trị như: Trái phiếu kho bạc, thương phiếu, hối phiếu... những tài sản có tính thanh khoản thấp như bất động sản, dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị.  Dưới góc độ ngân hàng: thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng đấy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch như trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các hoạt động giao dịch tài chính khác. Rủi ro thanh khoản là tình trạng ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn khả dụng (nhu cầu thanh khoản). Tình trạng này nhẹ thì gây thua lỗ, hoạt động kinh doanh bị đình trệ, nặng thì làm mất khả năng thanh toán dẫn đến ngân hàng phá sản. 1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản Các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đã chỉ ra 5 nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại trong thời gian qua. Thứ nhất: tăng trưởng tín dụng quá nóng. Sự tăng trưởng tín dụng quá nóng của các ngân hàng thương mại đi kèm với cơ cấu đầu tư không hợp lý, tập trung lớn vào đầu tư bất động sản chạy theo lợi nhuận sẽ phát sinh rủi ro cao khi thị trường đóng băng, tạo sự mất cân đối về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ do ngân hàng đã sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn. Chính điều này đã tạo ra sự rủi ro thanh khoản cao đối với ngân hàng thương mại”. Hội Ngộ 1
  10. 10. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng Thứ hai: công tác dự báo và phân tích thị trường của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam còn nhiều hạn chế. Các NHTM còn có tư tưởng ỷ lại quá nhiều vào cơ chế nhà nước, trong khi các ngân hàng nước ngoài, ngoài việc chấp hành nghiêm túc các tỷ lệ an toàn còn thường xuyên nghiên cứu, dự báo sát các diễn biến của thị trường nên đã dự phòng vốn thanh khoản và điều chỉnh kịp thời, không bị động trước những tác động thị trường. Thứ ba: tính liên kết hệ thống giữa các NHTM để đảm bảo an toàn thanh toán còn yếu, tạo sự cạnh tranh không lành mạnh, đẩy lãi suất lên cao tạo khe hở cho khách hàng gửi tiền “làm giá, tăng lãi suất” hoặc rút tiền chuyển sang các NHTM khác dẫn đến làm suy yếu khả năng chống đỡ thiếu hụt thanh khoản của hệ thống. Thứ tư: vấn đề quản trị thanh khoản tại các NHTM chưa tốt. Do sự yếu kém từ quản trị tài sản nợ, có của các NHTM và sự thiếu hụt của các công cụ quản lý hữu hiệu… Ngân hàng Nhà nước cũng khó nắm bắt chắc chắn tình hình thanh khoản cũng như sự thay đổi lớn trong tài sản của mỗi NHTM để điều chỉnh quy định của mình Thứ năm: xuất phát từ phía khách hàng, đây được đánh giá là nhóm nguyên nhân khiến các ngân hàng khó có thể dùng công cụ thị trường để điều tiết có hiệu quả thanh khoản của các ngân hàng. Trong điều kiện thông tin bất cân xứng, lại chưa minh bạch, một số khách hàng (kể cả pháp nhân) đã rút tiền ra khỏi ngân hàng này và chuyển sang ngân hàng khác, dân cư rút tiền để mua vàng, mua đô la Mỹ để tích trữ… đã làm tăng tính bất ổn của thị trường, nội và ngoại tệ, gây khó khăn cho chính khách hàng đã và đang sử dụng dịch vụ gửi và vay tiền tại ngân hàng. Ngoài những nguyên nhân trên, còn có nhiều nguyên nhân như: do các giao dịch bằng ngoại tệ tại các NHTM Việt Nam chủ yếu tập trung vào một loại ngoại tệ là USD; những tác động trực tiếp từ các loại rủi ro khác trong hoạt động ngân hàng cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới rủi ro thanh khoản; hiện tượng một số tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước chuyển tiền hoặc rút tiền với khối lượng lớn; yếu kém trong công tác kế hoạch hóa và quản trị điều hành… 1.1.3 Tác động của rủi ro thanh khoản đến hoạt động của NHTM RRTK là rủi ro nguy hiểm nhất của ngân hàng, có liên quan đến sự sống còn của ngân hàng. Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanh toán, Hội Ngộ 2
  11. 11. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng tức là phải đáp ứng được các nhu cầu thanh toán trong hiện tại, tương lai và khác nhu cầu thanh toán đột xuất. Một khi rủi ro thanh khoản xuất hiện không chỉ nó ảnh hưởng đến bản thân NHTM mà còn ảnh hưởng đến cả một nền kinh tế - xã hội. Thứ nhất, nếu RRTK xảy ra, tuỳ theo mức độ nghiêm trọng mà ngân hàng có thể phải chịu: Chuyển hoá các tài sản có thanh khoản thành tiền với chi phí cao; tiếp cận với thị trường tiền tệ đang tăng vốn với những điều kiện khắt khe hơn, ví dụ, phải có tài sản thế chấp, chịu mức lãi suất cao, không được tuần hoàn nợ cũ, hạ mức tín dụng bị xem xét lại thường xuyên hoặc bị từ chối cho vay, đình trệ hoạt động dẫn đến giảm thu nhập, mất uy tín dẫn đến mất khách hàng. Thứ hai, trong trường hợp đặc biệt, RRTK có thể đẩy ngân hàng tới tình trạng mất khả năng thanh toán, là trạng thái bên bờ vực phá sản ngân hàng. Khi một ngân hàng mất đi khả năng thanh toán thì sẽ gây nên tâm lý lo ngại đối với không chỉ bản thân ngân hàng mà còn đối với khách hàng của các ngân hàng khác. Họ sợ rằng ngân hàng nơi mình gửi tiền cũng có thể bị phá sản nên tìm mọi cách để rút tiền khỏi ngân hàng đó. Nếu niềm tin của công chúng bị lung lay thì có thể dẫn đến hàng loạt ngân hàng mất khả năng thanh toán chỉ trong một thời gian ngắn và khiến cả hệ thống ngân hàng rơi vào tình trạng hỗn loạn, sự hỗn loạn này của hệ thống ngân hàng có thể sẽ dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội – chính trị của một quốc gia. 1.2 NỘI DUNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NHTM Gồm các vấn đề sau: 1.2.1 Nhận dạng và phân tích nguyên nhân rủi ro thanh khoản ở NHTM Điều kiện tiên quyết để quản trị rủi ro là phải nhận dạng được rủi ro. Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bao gồm: Việc theo dõi, xem xét nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ hoạt động của ngân hàng nhằm thống kê được tất cả các loại rủi ro, kể cả dự báo những rủi ro mới có thể xuất hiện trong tương lai, để từ đó có các biện pháp kiểm soát, tài trợ cho từng rủi ro phù hợp. Không một ngân hàng nào có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng dự trữ thanh khoản của họ là hợp lý và đủ để không bị rơi và tình trạng RRTK nếu chưa vượt quá Hội Ngộ 3
  12. 12. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng những thử thách của thị trường. Những thử thách này được biểu hiện qua những dấu hiệu nhận dạng sau: Lòng tin của công chúng: Sự tin tưởng của công chúng là một trong những dấu hiệu quan trọng để đánh giá khả năng thanh khoản của một ngân hàng tốt hay xấu. Nếu công tác quản lý thanh khoản của ngân hàng yếu kém, không duy trì đủ lượng tiền mặt hoặc không có khả năng hoàn trả các khoản tiền mà khách hàng yêu cầu ngay lập tức thì điều này sẽ xói mòn lòng tin của công chúng vào ngân hàng. Do vậy, ngân hàng sẽ mất dần những khách hàng là những người gửi tiền. Ngược lại nếu một ngân hàng có được sự tin tường của người gửi tiền nghĩa là khách hàng đặt niềm tin vào khả năng hoàn trả cả gốc và lãi của ngân hàng hay đồng thời với việc ngân hàng đó thừa nhận là có khả năng thanh khoản cao. Sự biến động giá cổ phiếu của ngân hàng: Khi giá cổ phiếu của ngân hàng có xu hướng giảm, chứng tỏ tính hấp dẫn của chúng đối với nhà đầu tư giảm đi, ảnh hưởng lớn đến tâm lý của người gửi tiền. Người dân có xu hướng rút tiền khỏi ngân hàng để gửi tiền sang ngân hàng khác hoặc đầu tư vào những kênh có lợi nhuận cao hơn, trong khi đó các khoản cho vay đến hạn thanh toán không được thanh toán hoặc không đáp ứng được nhu cầu thanh khoản, dẫn đến cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản khiến cho ngân hàng rơi vào tình trạng RRTK. Ngược lại, giá cổ phiếu hoặc tăng hoặc giữ nguyên được thì sẽ củng cố lòng tin và tâm lý nơi công chúng vào khả năng thanh toán của ngân hàng. Áp dụng mức lãi suất huy động cao hơn thị trường: Tại sao một ngân hàng lại chấp nhận áp dụng mức lãi suất huy động tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu và chấp nhận mức lãi suất đi vay cao hơn mức lãi suất trên thị trường một cách bất thường hoặc phải đi vay với điều kiện về tài sản đảm bảo chặt chẽ hơn? Nếu xảy ra tình trạng như vậy thì chứng tỏ một dấu hiệu là ngân hàng đang gặp khó khăn thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của mình. Lỗ từ việc bán tài sản: Khi ngân hàng bán tài sản một cách vội vã và sẵn sàng chịu lỗ lớn chứng tỏ ngân hàng đang gặp phải một vấn đề nào đó trong vấn đề thanh khoản. Bán tài sản có nghĩa là ngân hàng sẽ phải chấp nhận mất đi những khoản thu nhập tạo ra từ tài sản trong tương lai cũng như các chi phí giao dịch trả cho người môi giới liên quan đến việc bán tài sản. Hội Ngộ 4
  13. 13. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng Khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng: Cho vay là một trong những hoạt động quan trọng hất của ngân hàng vì hoạt động này tạo nhiều lợi nhuận nhất và kéo theo các nghiệp vụ khác phát triển. Do đó, khi ngân hàng không đáp ứng đầy đủ và kịp thời các cam kết tín dụng thì chứng tỏ ngân hàng đang thiếu nguồn cung thanh khoản. Vay vốn từ ngân hàng trung ương: NHTW giữ vai trò là người cho vay cuối chùng đối với các NHTM. Cho nên, khi một ngân hàng có dấu hiệu buộc phải đi vay NHTW với khối lượng lớn và thường xuyên thì ngân hàng đó cần phải xem xét lại chính sách quản lý thanh khoản của mình để lấy lại niềm tin của công chúng. Nếu như xuất hiện bất cứ một dấu hiệu nào nêu trên đây mà không có các biện pháp cũng cố khả năng thanh khoản kịp thời thì nguy cơ ngân hàng đó rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản là không nhỏ. Các nhà quản trị ngân hàng cần phải tập trung xem xét lại các chính sách và thực tiễn công tác quản lý thanh khoản của ngân hàng để giải quyết xem những thay đổi gì cần phải thực hiện để cải thiện khả năng thanh khoản và lấy lại niềm tin nơi công chúng. 1.2.2 Các phương pháp đo lường trạng thái thanh khoản của NH Trong những năm gần đây, một số phương pháp đo lường yêu cầu thanh khoản đã được phát triển bao gồm: Phương pháp tiếp cận nguồn vốn vốn, phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn và phương pháp chỉ số thanh khoản. Mỗi phương pháp nêu trên đều được xây dựng dựa trên một số giả định là ngân hàng chỉ có thể ước lượng gần đúng mức cầu thanh khoản thực tế tại một thời điểm nhất định. Đó chính là lý do vì sao nhà quản lý thanh khoản phải luôn sẵn sàng điều chỉnh mức dự tính về yêu cầu thanh khoản mỗi khi ngân hàng được thông tin mới. 1.2.3 Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro thanh khoản Kiểm soát rủi ro là trọng tâm của quản trị rủi ro. Đó chính là việc sử dụng các biện pháp, ký thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, phòng tránh hoặc giảm thiểu các tổn thất, những ảnh hưởng không mon muốn có thể xảy ra đối với ngân hàng. Qua nhiều năm, các nhà quản lý ngân hàng đã phát triển một số Hội Ngộ 5
  14. 14. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng chiến lược nhằm giải quyết vấn đề thanh khoản của ngân hàng: Chiến lược quản lý tài sản Có, chiến lược quản lý Tài sản Nợ và chiến lược quản lý phối hợp. Chiến lược quản lý tài sản Có: Đây là phương pháp tiếp cận cổ điển nhất trong việc đáp ứng nhu cầu thanh khoản của ngân hàng, Ở hình thức đơn giản nhất, chiến lược này kêu gọi ngân hàng tích luỹ thanh khoản bằng cách nắm giữ các tài sản có tình thanh khoản cao, chủ yếu là tiền mặt và các chứng khoán dễ bán. Do giữa thanh khoản và thu nhập luôn có sự đánh đổi nên nếu một ngân hàng duy trì một lượng lớn tài sản có tính thanh khoản cao thì đồng thời giảm một lượng thu nhập mà các tài sản này có thể tạo ra. Chiến lược này được các ngân hàng áp dụng vì nó mang lại ít rủi ro. Nhưng nó lại không phải là chiến lược QTRR có chi phí thấp. Vì bán tài sản có nghĩa là ngân hàng chấp nhận mất đi những lợi nhuận mà tài sản đó tạo ra, bên cạnh đó việc bán tài sản sẽ còn liên quan đến chi phí giao dịch cho người môi giới. Không những vậy, thường thì để tối thiểu hoá chi phí cơ hội cho việc không nhận được thu nhập từ tài sảm, ngân hàng trước hết phải bán hết những tài sản có mức thu nhập tiềm năng thấp nhất. Tuy nhiên việc bán tài sản để tăng cường thanh khoản sẽ làm hình ảnh của ngân hàng yếu đi thể hiện qua bảng cân đối tài sản. Bởi tài sản bán đi thường là các chứng khoán ít rủi ro của chính phủ, cái thường tạo cho công chúng lòng tin rằng ngân hàng lành mạnh về tài chính. Chiến lược quản lý tài sản Nợ: Chiến lược quản lý tài sản Nợ là chiến lược mà ngân hàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản phát sinh bằng cách vay những nguồn vốn khả dụng tức thời trên thị trường tiền tệ. Vay thanh khoản có nhiều lợi thế: Ngân hàng có thể lựa chọn vay khi thực sự cần vốn. Khác với chiến lược trên là ngân hàng luôn phải dự trữ một số tài sản thanh khoản cao tại bất cứ thời điểm nào làm giảm thu nhập tiềm năng. Chiến lược này thường được các ngân hàng lớn sử dụng do ngân hàng lớn thường có uy tín và năng lực đi vay cao trên thị trường tiền tệ. Tuy nhiên, vay thanh khoản cũng tiềm ẩn một số rủi ro nhất định, ví dụ nều lãi suất ngân hàng tăng đột ngột, khi đó phương pháp này tỏ ra kém hiệu quả bởi chi phí đi vay cũng đồng nghĩa sẽ tăng cao. Thông thường khi đi vay, ngân hàng phải mua thanh khoản trong điều kiện khó khăn – cả về giá cả và tính sẵn có. Chi phí vay vốn của ngân hàng thường khó xác định chắc chắn, làm giảm tính ổn định của thu nhập. Hơn nữa, những ngân hàng rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính thường có nhu cầu vay thanh khoản lớn Hội Ngộ 6
  15. 15. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng nhất, người gửi tiền dần nhận thức được khó khăn của ngân hàng và bắt đầu thực hiện rút vốn. Cùng lúc đó, các tổ chức tài chính khác cũng không muốn cho vay đối với ngân hàng vì sợ rủi ro. Chiến lược quản trị thanh khoản phối hợp: Do những rủi ro trong việc hoàn toàn dựa vào nguồn vốn vay trên thị trường tiền tệ khi sử dụng chiến lược quản trị TSN và mức chi phí đáng kể khi sử dụng chiến lược thanh khoản TSC, để đáp ứng các nhu cầu thanh khoản phát sinh, hầu hết các ngân hàng đã kết hợp sử dụng đồng thời cả chiến lược quản trị thanh khoản TSC và thanh khoản TSN để có thể phát huy tối đa mọi lợi thế và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra. Theo chiến lược này, một phần nhu cầu thanh khoản dự tính sẽ được đáp ứng bằng việc dự trữ tài sản thanh khoản (chủ yếu là các giấy tờ có giá và tiền gửi tại các TCTD khác) trong khi phần còn lại của nhu cầu thanh khoản sẽ được đáp ứng bằng cách vay vốn trên thị trường tiền tệ. Những nhu cầu thanh khoản bất thường hoặc mang tính thời vụ thì sẽ được xử lý bằng việc vay vốn trên thị trường tiền tệ, còn những nhu cầu thanh khoản mang tính chu kỳ thì sẽ được xử lý bằng việc dự trữ các tài sản mang tính thanh khoản cao. 1.3 VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THANH KHOẢN CỦA NHTM Thanh khoản của ngân hàng liên quan trực tiếp đến an toàn và sinh lợi. Duy trì an toàn thanh khoản – tức khả năng đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản là mục tiêu quan trọng và xuyên suốt trong hoạt động ngân hàng. Để duy trì nó, ngân hàng phải chấp nhận một khoản chi phí nhất định. Ngân hàng luôn phải cân nhắc sự đánh đổi giữa mức độ an toàn của thanh khoản và khả năng sinh lời. Để gia tăng an toàn thanh khoản, chi phí cũng gia tăng. Do vậy, QTRRTK không phải là nhằm né tránh rủi ro mà là đối diện với nó, phòng ngừa, kiểm soát và hạn chế được RRTK đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng. Từ đó đề ra các chiến lược kinh doanh, phát huy lợi thế cạnh tranh, đo lường vốn tối thiểu và khả năng thanh toán, giúp lãnh đạo ra quyết định, giúp các phòng ban liên quan định giá lại các khoản mục kinh doanh, báo cáo và kiểm soát rủi ro, quản lý danh mục đầu tư.... Hội Ngộ 7
  16. 16. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2.1.1 Khái quát chung Từ năm 1986 đến nay đã diễn ra nhiều sự kiên quan trọng đánh dấu bước chuyển biến lớn của hệ thống NHTM Việt Nam được thể hiện qua các cột mốc tiêu biểu sau: Từ năm 1986 đến 1990: thực hiện tách dần chức năng quản lí nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động ngân hàng sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Cơ chế mới về hoạt động NHTM được hình thành và hoàn thiện dần: tháng 5/1990, hai Pháp lệnh ngân hàng ra đời đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp, trong đó: NHNN thực thi nhiệm vụ quản lí nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; thực thi nhiệm vụ của ngân hàng trung ương. Cấp NHTM thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế do các định chế tài chính ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện. Năm 1991 đến nay, thực hiện chủ trương đường lối chính sách của Đảng trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hện thống NHTM Việt Nam với các mốc thời gian quan trọng sau: Năm 1993, bình thường hóa các mối quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ thế giới (IMF, WB). Năm 1997, Quốc hội khóa X thông qua luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng thành lập ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2001, cơ cấu lại tài chính và hoạt động của các NHTM cũng như ngân hàng thương mại cổ phần. Mục đích chính của chương trình là cải cách là nâng cao năng lực cạnh tranh cho từng ngân hàng trong nước và toàn hệ thống để chuẩn bị hội nhập quốc tế. Điểm cốt lõi của nỗ lực cải cách đối với NHTM là tăng vốn cho các ngân hàng này , bao gồm vốn điều lệ và tiến tới đạt hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) theo tiêu chuẩn quốc tế là 8%. Hội Ngộ 8
  17. 17. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng Năm 2006 - 2007 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống NHTM Việt Nam cả về số lượng và quy mô. Số lượng ngân hàng năm 2007 là 80 ngân hàng. Về quy mô, đến năm 2007, tổng tài sản toàn hệ thống đã tăng lên hơn 1500 tỷ đồng, bằng hơn 130% GDP 2007. Năm 2008, thực hiện cam kết gia nhập WTO, NHNN Việt Nam chính thức cấp giấy phép thành lập 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, bao gồm ngân hàng ANZ Việt Nam, Ngân hàng Hong Leong Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam, Ngân hàng HSBC Việt Nam, Ngân hàng Shinhen Việt Nam. Năm 2010, chính phủ đồng ý sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước để phù hợp với tình hình kinh tế thị trường. Năm 2012, việc thiết lập lại ổn định vĩ mô và chủ trương hạ lãi suất về mức hợp lý đã có những tác động tích cực đối với hoạt động đầu vào của hầu hết các NHTM. Tuy nhiên, vấn đề tâm lý, nợ xấu và những khó khăn thanh khoản ở một số NHTM đã cản trở quá trình giảm lãi suất huy động. Tính đến cuối tháng 6 năm 2012, huy động tiền gửi KH của các TCTD đã tăng tới 6,5% so với cuối năm 2011, trong đó một số có mức tăng huy động vốn rất cao như BIDV tăng 17%, NHXNK tăng 16%, NH MB tăng 12%; một số tăng tương đối khiêm tốn, như VCB tăng 6%; ACB tăng 2%; Vietinbank giảm 1,8%... Như vậy, quá trình cải cách và mở cửa của ngân hàng trong những năm qua đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, hệ thống NHTM Việt Nam ngày càng phát triển và năng lực cạnh tranh của các NHTM ngày một nâng cao. Tuy nhiên, mặc dù quá trình cải cách đã thu được những thành quả nhất định, nhưng hoạt động của hệ thống NHTM Việt nam vẫn còn những tồn tại và hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến độ an toàn và hiệu quả hoạt động cũng như năng lực cạnh tranh của toàn hệ thống. Tồn tại đầu tiên là sự chi phối quá lớn của NHNN. NHNN vẫn còn can thiệp sâu vào hoạt động của hệ thống NHTM, dẫn đến hiện tượng thiếu tinh thần trách nhiệm và tự chủ trong công tác quản lí hoạt động kinh doanh. Lộ trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước tỏ ra còn chậm và kém hiệu quả. Hội Ngộ 9
  18. 18. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng Điểm yếu thứ hai là quy mô nhỏ của khu vực ngân hàng thương mại cổ phần và quy mô nhỏ của từng NHTM. Theo tổng hợp từ báo cáo thừng niên hàng năm, phần lớn các ngân hàng trong nước chỉ có số vốn điều lệ vào cỡ 1000 đến 7000 tỷ đồng trừ một số ngân hàng lớn như Agribank, Vietcombank. Tính đến đầu năm 2012, vẫn còn tới hơn chục ngân hàng sẽ phải chạy đua về đích trong cuộc tăng vốn điều lệ lên 3000 tỷ đồng vào cuối năm. Để hấp dẫn nhà đầu tư khi tăng vốn, các ngân hàng phải đảm bảo mức cổ tức cũng phải tăng tương ứng. Nghĩa là muốn tăng thêm 50% vốn thì lợi nhuận cũng phải tăng thêm 50%. Thế nhưng điều này là không thể trong bối cảnh NHNN siết chặt việc cho vay đối với lĩnh vực phi sản xuất và yêu cầu các tổ chức tín dụng chỉ được xây dựng kế hoạch tăng trưởng tín dụng dưới 20%. Thứ ba, hệ thống dịch vụ NHTM Việt Nam còn đơn điệu, chất lượng chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng và nặng nề về dịch vụ ngân hàng truyền thống. Các ngân hàng huy động vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi chiếm 94% tổng nguồn vốn huy động và cấp tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, chiếm trên 80% tổng thu nhập. Như vậy, có thể nói nếu muốn tăng năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam thì không còn có cách nào khác là phải tiếp tục cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam ngày một hoàn thiện hơn. 2.1.2 Các rủi ro thường gặp phải Do quy mô còn nhỏ cộng với hệ thống NHTM Việt Nam ra đời khá muộn, hoạt động vẫn còn non kém so với khu vực và quốc tế, cho nên các NHTM Việt Nam không thể tránh khỏi nhiều rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Có thể thấy một số rủi ro thường gặp nhất của các NHTM Việt Nam như sau: 2.1.2.1 Rủi ro tín dụng Theo NHNN, đến cuối tháng 9.2013, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống chiếm 4,62% trên tổng dư nợ, giảm so với mức 8% của cuối năm 2012. Hiện tại, công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã tích cực mua nợ xấu, tính đến ngày 20.11 VAMC đã mua 17.700 tỉ đồng nợ xấu của các ngân hàng. Hội Ngộ 10
  19. 19. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng Tính đến thời điểm hiện tại hầu hết các ngân hàng thương mại đã công bố báo cáo tài chính 2013. Mặc dù theo báo cáo đa số các ngân hàng đều có lãi, tuy nhiên nợ xấu ở nhiều ngân hàng cũng tăng đáng kể, chất lượng nợ xấu đi. Ngân hàng TMCP Xăng Dầu (PG Bank) đang là ngân hàng dẫn đầu về tỷ lệ nợ xấu, tính đến hết tháng 9.2013, PGBank có 1.240 tỉ đồng nợ xấu chiếm 9,5% trên tổng dư nợ 13.057 tỉ đồng... Tuy nhiên, nếu nhìn vào hoạt động ngân hàng, sẽ thấy nợ xấu vẫn là vấn đề gai góc khi tình trạng “doanh nghiệp không lừa đảo nhưng kinh tế khó khăn, không bán được hàng nên không trả được nợ” đang xảy ra thường xuyên. 2.1.2.2 Rủi ro lãi suất Khi huy động vốn của doanh nghiệp và dân cư, ngân hàng phải trả một khoản lãi, khi tài trợ, ngân hàng thu lãi. Lãi suất của các khoản cho vay , tiền gửi và chứng khoán thường biến động, có thể làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng và ngược lại gây tổn thất cho ngân hàng. Tiền gửi vào ngân hàng vẫn là kênh đầu tư khá hấp dẫn hiện nay và đặc biệt là hầu như không có rủi ro trong khi thị trường chứng khoán tụt dốc, thị trường bất động sản trầm lắng và việc đầu tư vào tiền tệ có thể gặp rủi ro do thị trường tự do bị kiểm soát gắt gao. Lãi suất cơ bản được NHNN ban hành năm 2010 là 9% và đầu năm 2011vẫn duy trì ở mức này. Còn trần lãi suất bị khống chế ở mức 14%/năm. Tuy nhiên, trần lãi suất huy động đã bị khống chế ở mức 14%/năm cũng khiến các NHTM quy mô nhỏ gặp bất lợi so với các ngân hàng lớn trong việc hút vốn vì các ngân hàng nhỏ đang phải chịu áp lực về tăng trưởng. Điều này đã buộc các ngân hàng này thường xuyên phải lách luật, châm ngòi cho các cuộc đua lãi suất. Nhiều ngân hàng vẫn áp dụng chiêu khuyến mại, khách hàng vẫn có thể mặc cả lãi suất tới 16-17%/năm, thậm chí 18%/năm với các món tiền gửi vài tỉ đồng cho kì hạn 1 hoặc 2 tháng. Lãi suất huy động bình quân của các ngân hàng thương mại cổ phần năm 2013 khoảng 7,5%, lãi suất cho vay trung và dài hạn bình quân khoảng 12,5%. 2.1.2.3 Rủi ro thanh khoản Có thể nói, RRTK thực chất là hệ quả của các loại rủi ro nêu trên. Vì những biến động bất lợi biến động về lãi suất, những thay đổi về tỉ giá, những sự yếu kém trong thẩm Hội Ngộ 11
  20. 20. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng định tín dụng, các NHTM Việt Nam hiện nay vẫn phải thường xuyên đối diện với RRTK. 2.2 TÌNH HÌNH RỦI RO THANH KHOẢN CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 2.2.1 Thực trạng rủi ro thanh khoản Giai đoạn 1998-2001, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt thấp dưới 7%/năm. Chính phủ đã thực hiện nhiều giải pháp kích cầu nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi thời kì suy giảm. Không thể phủ nhận những thành công được mang lại từ chính sách đó. Những nguyên nhân của mức tăng giá “chóng mặt” năm 2004 là do cầu kéo, có thể được giải thích một phần từ thực thi chính sách được đề cập trên đây. 2.2.1.1 Giai đoạn 2007-2008 Tuy nhiên năm 2007 lại chứng kiến áp lực tăng giá tương tự năm 2004. Tình hình có vẻ phức tạp hơn khi nền kinh tế Việt Nam đã thực sự bước vào sân chơi lớn WTO. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2007 lên đến 20,3 tỷ USD tăng 69,3% so với năm 2006. Cùng với vốn đầu tư trực tiếp, đồng vốn gián tiếp cũng đang đổ vào thị trường chúng khoán, thị trường bất động sản thông qua các quỹ đầu tư nước ngoài. Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nền kinh tế Mỹ từ cuối năm 2007 và năm 2008 đã khiến hàng tram tỷ USD đã tiêu tan và lây lan nayc vẫn chưa chấm dứt. Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng nhất định từ cuộc khủng này, khi nền kinh tế trong nước ngày càng hội nhập đầy đủ và sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới. Chính sách thắt chặt tiền tệ được thực thi khi lạm phát gia tăng cùng với tác động từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nội địa trở nên hết sức khó khan, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nguy cơ hàng loạt doanh nghiệp bên vực phá sản dần hiện hữu. Chính phủ đã nhân ra vấn đề cấp thiết đó, kịp thời ban hành Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 về những giái pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đẩm an sinh xã hội. Triển khai Nghị quyết nêu trên của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước có Chỉ thị số 06/2008/CTNHNN Hội Ngộ 12
  21. 21. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng ngày 31/12/2008. Tinh thần chủ đạo của chỉ thị này là điều hàng chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả, vừa ngăn chặn lạm phát trở lại vừa ngăn chặn suy giảm kinh tế. Các giải pháp áp dụng trong tình huống này là điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản và tỷ lệ DTBB. Đến cuối năm 2008, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam từ 14%/năm xuống còn 8,5%/năm: tỷ lệ DTBB giảm hơn một nửa từ mức 11%xuống còn 5%. Với sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, lạm phát đã được kiểm chế, kinh tế vi mô cơ bản được giữu ổn định, an sinh xã hội được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2008 đạt 6,23%tỷ lệ lạm phát ở mức 19,89%. Với chương trình cải cách được thiết lập toàn diện và những kết quả đạt được tưởng chừng như hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam vững vàng trước mọi thử thách. Tuy nhiên, những gì đã diễn ra cuối năm 2007 và những tháng đầu năm 2008 đã chứng tỏ điều ngược lịa. Trước các biện pháp mạnh của Ngân hàng Nhà nước nhằm kiềm chế lạm phát, điểm yếu thanh khoản của các ngân hàng thương mại dần lộ rõ. Để đảm bảo khả năng thanh khoản, các ngân hàng đã tăng lãi suất thu hút tiền gửi của khách hàng. Điều này dẫn tới cuộc chạy đua lãi suất vào giữa tháng 2 năm 2008 và có lẽ không có điểm dừng nếu Ngân hàng Nhà nước không “tuýt còi” bằng Công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 khống chế trần lãi suất huy động là 12%/năm. Lãi suất vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng có lúc vượt qua con số 40%/năm, là mức tăng cao nhất chưa từng có trong lịch sử thị trường liên ngân hàng Việt Nam. Mặc dù, các ngân hàng đều khẳng định khả năng thanh khoản của ngân hàng mình vẫn đảm bảo. Nhưng cuộc chạy đua lĩa suất không có điểm dừng không thể chỉ do chính sách thắt chặt tiền tệ mạnh từ Ngân hàng Nhà nước. Đó là do vấn đề quản trị rủi ro kinh doanh nói chung, quản trị rủi ro thanh khoản nói riêng chưa được coi trọng; các ngân hàng đã tăng trưởng tín dụng quá nhanh và đàu tư vào các lĩnh vực có rủi ro cao như chứng khoán, bất động sản. Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng bình quân năm 2007 so với năm 2006 của 33 ngân hàng thương mại là 53,22% đã minh chứng cho nhận định trên đây Ví dụ minh họa Trường hợp Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong những ngân hàng thương mại nhà nước. Đến cuối năm 2008, số vốn điều lệ của BIDV hơn 8 ngàn tỷ VND. Với bề Hội Ngộ 13
  22. 22. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng dày phát triển 52 năm, BIDV có mạng lưới rộng khắp cả nước, chỉ xếp sau Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về số điểm giao dịch. Trong năm 2007, 2008, không nằm ngoài xu hướng chung của hệ thống ngân hàng Việt Nam, tính thanh khoản tại BIDV cũng .có những khó khan nhất định. Những hạn chế về thanh khoản của BIDV có thể xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan: - Mặc dù quy định về quản lí thanh khoản đã được ban hành nhưng việc triển khai áp dụng nhất là tại các chi nhánh chưa được quan tâm đúng mức từ cấp lãnh đạo đến nhân viên. Hội sở chính chưa có quy định cụ thể về các chỉ số cho toàn hệ thống phải chăng chưa phù hợp, như tỷ lệ dự trữ tối thiểu chỉ là 8 %. - Bộ phận hỗ trợ ALCO khi khai báo cung cầu thanh khoản, xây dựng các kịch bản phải chăng đã kì vọng nhiều vào thị trường nên có những đánh giá khả quan; từ đó đẩy mạnh cho vay, giảm dự trữ. Ngay cả khi vấn đề khó khan về thanh khoản qua chưa lâu nhưng dư nợ của BIDV tăng mạnh vào cuối năm 2008. 2.2.1.2 Giai đoạn 2008-2009 Quý I/2008 khi lạm phát có dấu hiệu gia tăng, NHNH sử dụng chính sách tiền tệ thắ chặt thông qua việc tăng lãi suất cơ bản, tăng dự trữ bắt buộc. Tháng 3/2008 phát hành tín phiếu NHNN bắt buộc, LSCB liên tục được điều chỉnh tăng từ 8,25% lần lượt lên 8,75%, 10%,11%, 12% và tới mức 14% vào đầu tháng 6/2008, NHNN chỉ đạo các NHTM tuân thủ một cách nghiêm ngặt quy định không được áp dụng lãi suất kinh doanh vượt quá 150% LSCB và không được thu phí đối với hoạt động cho vay. Thực tế cho thấy, tình trạng khan hiếm đồng tiền, lãi suất tiền gửi VND liên ngân hàng tăng lên một cahcs chóng mặt đã đẩy các NHTM vào cuộc đua lãi suất làm bằng lãi suất huy động tăng dần lên từ 12% lên tơi 18,6%/푛ă푚28. Mặc dù lãi suất huy động tăng cao như vậy nhưng thực tế đồng Việt Nam thu hút về ngân hàng lại không được như ý muốn của các nhà quản lý và tình trạng thanh khoản vẫn rất căng thẳng. Hội Ngộ 14
  23. 23. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng Từ quý IV/2008 đến đầu năm 2009, mặc dù NHNN thực thi CSTT nới lỏng nhưng trước tình trạng dư nợ tín dụng có dấu hiệu tăng mạnh hơn chỉ tiêu định hướng cho cả năm 2009 là 30%, thì từ tháng 6/2009 đến đầu năm 2010, dù không tuyên bố là đã chuyển sang CSTT thắt chặt, nhưng những động thái của NHNN rõ rang là có những biểu hiện của việc thắt chặt tiền tệ dưới dạng định hướng là chủ động ngăn ngừa lạm phát: Đó là việc chỉ đạo các NHTMNN không được tăng trưởng tín dụng quá 25%, các NHTM phải kiểm soát tốc độ tăng trưởng. Đồng thời NHNN cũng thông báo là sẽ kiểm soát chặt lượng cung tiền qua OMO, chỉ đạo không được dung vốn cho vay đầu tư bất động sản và các hoạt động đầu tư tài chính cũng là một biện pháp để kiềm chế mức tăng trưởng tín dụng. Những biện pháp này của NHNN đã kiềm chế được mức tăng dư nợ ở mức 37,7% (đã có dự báo là tăng trên 40%), đồng thời góp phần kiềm chế mức tăng CPI (cả năm tăng 6,88%, nhưng tình hình lãi suất và cung ứng cho nền kinh tế lại đang có vấn đề. Lãi suất huy động VND liên tục trong xu thế bung hết trần. Từ 1.12.2009, LSCB đã lên 8% và trần lãi suất huy động là dưới 10,5%/năm thì lãi suất huy động cao nhất đã lên tới 10,499%/năm, lãi suất các kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn đang xích lại gần nhau và hướng đến mức lãi suất trần tối đa được phép, lãi suất liên ngân hàng lên 12%/năm. Đó là những con số công bố chính thức, còn trong thực tế thì khoản tiền gửi lớn của tổ chức và dân cư, bằng cách này hay cách khác, đang được nhiều NHTM lôi kéo, níu giữ bằng các hình thức thường đã khiến cho lãi suất thực lớn hơn lãi suất danh nghĩa ghi trên biểu lãi suất mà các NHTM niêm yết từ 1-2%/năm. 2.2.2 Ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam 2.2.2.1 Đối với ngân hàng thương mại Thứ nhất, thanh khoản của một số NHTM nhỏ bị giảm sút nghiêm trọng. Cuộc chạy đua lãi suất của các NHTM đã làm mặt bằng lãi suất huy động tăng dần lên từ 12% lên tới 18,6%/năm. Dù lãi suất huy động tăng cao nhưng khả năng thu hút vốn của các NHTM Việt Nam xem ra không khả thi. Hội Ngộ 15
  24. 24. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng Thứ hai, các NHTM Việt Nam đứng trước mối nguy về pháp luật. Khi mà NHNN đã ra quyết định lãi suất huy động tiền gửi là không vượt quá 14%, các NHTM tiếp tục huy động lãi suất chui bằng những chiêu khuyến mại dành cho khách hàng gửi tiền trên 12 tháng và là khách hàng quen của NHTM. Một số chiêu lách luật được các NHTM sử dụng như thông qua hình thức khuyến mại “cào là trúng”, đặc biệt là sản phẩm huy động VND đảm bảo bằng USD. Ngoài việc tăng lãi suất tiết kiệm lên kịch trần ở hầu hết các kì hạn như Ngân hàng cổ phần Kiên Long còn tặng thêm ba lô du lịch, va li kéo, bộ chén, quạt hơi nước... cho khách hàng gửi tiền; ngân hàng Đông Á cũng làm tương tự với quà khuyến mại là áo mưa, túi du lịch... Ngân hàng này còn bổ sung thêm ưu đãi về mua ngoại tệ để đi nước ngoài với các khách hàng gửi tiền có số dư ở mức nhất định. Điều này không chỉ khiến các ngân hàng vướng phải các vấn đề liên quan đến pháp luật mà còn khiến các ngân hàng này gặp các rủi ro với các sản phẩm huy động linh hoạt. Đó là các dạng sản phẩm: tiền gửi có kì hạn “được rút gốc linh hoạt” và khi rút gốc trước hạn “được hưởng lãi suất theo thời gian thực gửi”; tiết kiệm lãi suất thả nổi” với đặc tính “cho phép ngân hàng được rút trước hạn mà vẫn được hưởng lãi suất thực nhận rất hấp dẫnvào nguy cơ rủi ro thanh khoản. Thứ ba, hoạt động kinh doanh của hầu hết các NHTM bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí một vài ngành hàng nhỏ bị tê liệt. Việc cho vay đối với khách hàng tại các ngân hàng hầu như bị đình chỉ, hầu hết các ngân hàng chỉ ưu đãi cấp tín dụng thoe hạn mức đối với những khách hàng truyền thống, trong khi đó lãi suất cho vay cũng bị đẩy lên rất cao, ở mức 18%/năm, rồi 21%/năm. Kết quả kinh doanh của các ngân hàng bị giảm sút một cách nghiêm trọng, nhiều ngân hàng bị lỗ hàng trăm tỉ và hầu hết các ngân hàng đều phải điều chỉnh giảm kế hoạch lợi nhuận năm khoảng 30-40%. 2.2.2.2 Đối với nền kinh tế - xã hội Thứ nhất, rủi ro thanh khoản (RRTK) gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc sản xuất và kinh doanh. Các giải pháp rút tiền từ lưu thông về tuy được coi là cần thiết nhưng đối với liều lượng lớn và nhanh một cách gấp gáp đã khiến đãn đến cuộc đua lãi suất giữa các NHTM bùng nổ, đẩy lãi suất huy động và cho vay liên tiếp kịch trần, lãi suất liên ngân hàng liên tục gia tăng kỉ lục, buộc các NHTM phải siết chặt các khoản cho vay ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Chi phí vốn cao cản trở các DN tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Thêm vào đó, Hội Ngộ 16
  25. 25. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh khiến môt số DN sản xuất kinh doanh thua lỗ, đình đốn, nợ xấu gia tăng. Thứ hai, niềm tin của công chúng đối với độ an toàn của các NHTM đã giảm sút nghiêm trọng. Hiện nay, tuy các NHTM đã thực hiện nhiều hình thức huy động vố nhưng theo đánh giá của các chuyên gia, số vốn huy động được không mấy khả thi. Trong bối cảnh nền kinh tế lạm phát cao như hiện nay, người dân vẫn có xu hướng gửi tiền ngắn hạn để tìm kiếm những cơ hội đầu tư khác mang lại lợi nhuận cao hơn. Tình hình đó đã gây ảnh hưởng nặng nề tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Đánh giá ở góc độ vĩ mô của toàn bộ nền kinh tế thì những diễn biến như trên đã gây ảnh hưởng tiêu cực lớn đến mục tiêu giảm lạm phát, tăng trưởng kinh tế và ổn định đời sống xã hội. 2.2.3 Nguyên nhân gây RRTK của các NHTM Việt Nam trong mấy năm gần đây 2.2.3.1 Nguyên nhân chủ quan Thứ nhất, cơ cấu khách hàng và chất lượng tín dụng kém: Về phía các NHTM, điều kiện kinh doanh thuận lợi trong những năm gần đây đã làm nảy sinh tư tưởng chủ quan, tăng trưởng tín dụng quá nóng trong khi lại buông lỏng chính sách quản trị rủi ro làm mất cân đối tương quan cơ bản trong cơ cấu tài sản, không đảm bảo đúng các tỷ lệ an toàn theo tiêu chuẩn của NHTM Việt Nam. Ngân hàng chủ yếu tập trung tín dụng vào một số khách hàng lớn hoặc tỉ trọng tín dụng cho một ngành. Trong bối cảnh đó, khi thị trường có biến động bất ngờ, khách hàng lũ lượt kéo đến rút tiền thì ngân hàng khó có thể xoay chuyển kịp thời, dẫn đến bị mất thanh khoản do cơ cấu đầu tư. Thứ hai, không cân xứng về kì hạn của Tài sản có và Tài sản nợ. Trong điều kiện thị trường biến động nhanh, người gửi tiền thường chọn kì ngắn hạn. Do vậy, tỉ trọng huy động vốn kì ngắn hạn trong tổng số vốn huy động cao, trong khi nhu cầu vay vốn thường dài hơn, nên nhiều NHTM đã dùng vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn vượt quá tỉ lệ quy định (Theo Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN quy định về tỉ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của Tổ chức tín dụng (TCTD), tỉ lệ vốn ngắn hạn tài trợ cho vay trung dài hạn là 40% đối với NHTM và 30% đối với các TCTD Hội Ngộ 17
  26. 26. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng khác ). Do vậy, mất cân đối cơ cấu kì hạn cũng tiềm ẩn RRTK. Thực tế, tình hình huy động vốn trung và dài hạn của các TCTD còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến các rủi ro tiềm ẩn do chênh lệch về kì hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Vì thế, ngày 10/8/2009, NHNN đã ban hành Thông tư số 15/2009/TT-NHNN quy định tỉ lệ đối với các TCTD hoạt động tại Việt Nam là 30%. Thứ ba, quy mô vốn điều lệ của NHTM Việt Nam còn ít, tiềm lực tài chính còn chưa đủ mạnh, điều này khiến cho hoạt động của các NHTM trở nên khó khăn, khả năng đảm bảo tỉ lệ CAR cũng gặp nhiều trở ngại. Sau đây là bảng tổng hợp vốn điều lệ của một số NHTM trong mấy năm gần đây. Bảng 2.1: Vốn điều lệ của một số NHTM Việt Nam từ 2010 – 2011 (Đơn vị: Tỷ đồng) STT Ngân hàng Vốn tự có STT Ngân hàng Vốn tự có 2010 2011 2010 2011 1 Agribank 21.000 29.605 6 Sacombank 9.179 10.740 2 BIDV 14.903 23.012 7 SHB 3.680 8.866 3 Vietcombank 17.587 25.140 8 ACB 7.705 9.377 4 Vietinbank 16.858 26.217 9 Kienlongbank 2.000 3.000 5 Techcombank 6.932 8.848 10 NamAbank 2.000 3.000 Ngày 22/11/2006, Chính phủ ban hành nghị định số 141/2006/NĐ-CP quy định mức vốn pháp định đối với NHTMNN đến năm 2008 là 3000 tỷ đồng, còn NHTMCP đến năm 2008 là 1000 tỷ đồng, đến năm 2010 là 3000 tỷ đồng. TCTD được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải có biện pháp đảm bảo có số vốn điều lệ thực góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương vốn pháp định. Kết quả tổng hợp cho thấy, sau khi Nghị định số 141/2006/NĐ-CP được ban hành thì các NHTM Việt Nam đang dần tăng vốn điều lệ lên theo từng năm. So sánh với các ngân hàng các nước trong khu vực cho thấy mức vốn điều lệ của NHTM Việt Nam còn khá nhỏ bé, phần lớn các ngân hàng trong nước chỉ có số vốn điều lệ vào cỡ 1000 đến 7000 tỷ VND. Cá biệt một số ngân hàng có vốn điều lệ tương đối lớn như: Agribank hơn 29 nghìn tỷ VND năm 2011, Vietinbank là 26 nghìn tỷ VND tính đến cuối năm 2011, nhưng vẫn chưa bằng một ngân hàng hạng trung bình trong khu vực là khoảng 1 tỷ USD tương đương hơn 20 nghìn tỷ VND (Tỷ giá theo NHNN công bố ngày 3/4/2011). Hội Ngộ 18
  27. 27. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng Vốn điều lệ thấp, năng lực tài chính còn hạn chế, khiến các NHTM Việt Nam khó khăn trong việc đáp ứng hệ số CAR như quy định. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến RRTK của các NHTM Việt Nam trong mấy năm trở lại đây. 2.2.3.2 Nguyên nhân khách quan Thứ nhất, chính sách kinh tế vĩ mô. Để kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt bằng công cụ lãi suất: Lãi suất huy động vốn bằng đồng Việt Nam của các tổ chức (trừ tổ chức tín dụng) và cá nhân gồm cả khoản chi khuyến mại dưới mọi hình thức không vượt quá 14%/năm. Khi lãi suất huy động được ấn định ở mức như vậy thì khả năng thu hút từ dân cư đối với các NHTM đặc biệt là các NHTM quy mô nhỏ là vô cùng khó khăn. Chưa kể, khả năng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với NHTM cũng là một trong những nhân tố gây nên RRTK cho NHTM Việt Nam. Thứ hai, việc huy động vốn gặp nhiều khó khăn, bởi lãi suất huy động thấp hơn tỷ suất lợi nhuận của một số kênh đầu tư khác. Trong khi lãi suất tiết kiệm tiền đồng trong năm 2009 chỉ khoảng 8%/năm, thì giá nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 10,2%, giá vàng tăng 35,1%, VN-Index tăng 86,02%. Mặc dù mức lãi suất tiết kiệm như trên không thấp, nhưng các ngân hàng vẫn khó thu hút lượng tiền tiết kiệm mới. Trong khi đó, một phần tiền gửi tiết kiệm với lãi suất cao trong năm trước nay đáo hạn đã không được gửi lại tiết kiệm, mặc dù các NHTM đã tăng lãi suất huy động. 2.3 VÀI VỤ VIỆC TIÊU BIỂU VỀ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NHTM 2.3.1 Rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) năm 2003 Đầu năm 2003, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) vẫn đang kinh doanh hiệu quả. Lợi nhuận 9 tháng đầu năm 2003 của ngân hàng này tăng 20% so với cùng kì năm 2002 (đạt xấp xỉ 170 tỷ đồng). Chính vì vậy, khi có tin đồn “Tổng giám đốc của ACB Phạm Văn Thiệt bỏ trốn” đã gây nên một cú sốc trong dư luận người dân TP.HCM, đặc biệt là những người có tiền gửi ở ACB. Sau đây là một số diễn biến chính của sự việc: Hội Ngộ 19
  28. 28. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng  Đầu tháng 10/2013, bắt đầu có những lời xì xào, bàn tán đầu tiên rằng tổng giám đốc (TGĐ) ACB tham lam công quỹ, “thụt két” hết số tiền trong Ngân hàng rồi bỏ trốn. Thậm chí một số khách hàng còn nhận được tin cho hay ngân hàng đã “phá sản”.  Khoảng một tuần sau, vào ngày chủ nhật (12/10) và thứ 2 (13/10), tin đồn lan rộng trong dư luận TP.HCM.  Ngày 14/10/2013, tình trạng căng thẳng lên đến đỉnh điểm khi hàng ngàn người dân đổ xô đi rút tiền ở trụ sở chính của ACB trên đường Nguyễn Thị Minh Khai và chi nhánh tại số 30 Mạc Đĩnh Chi ( Quận 1 – TP.HCM). Tại hai địa điểm này dân chúng tập trung đông đến nỗi tràn xuống cả lòng đường gây ùn tắc giao thông nhiều giờ. Chính điều này đã đẩy tâm lí người dân đến chỗ hoang mang, lo sợ thực sự. Rất may, xuất hiện kịp thời trước đông đảo người dân của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Đức Thúy bên cạnh ông TGĐ Phạm Văn thiệt cùng đại diện chính quyền Thành phố đã là lời bác bỏ tin đồn hùng hồn nhất.  Ngày hôm sau, 15/10, mặc dù người dân vẫn kéo đến rút tiền rất nhiều, nhưng cùng với cá nhân và các cơ quan có trách nhiệm, các cơ quan báo chí đồng loạt có những tin, bài quan trọng bác bỏ thông tin sai sự thật trên. Vì thế, đến cuối ngày, tình hình đã dịu xuống. Khách hàng đã bắt đầu đem tiền gửi trở lại ACB.  Ngày 16/10, sự cố gần như đã được dẹp bỏ.  Sau một tuần, mọi chuyện đã trở lại bình thường. ACB khôi phục lại mọi hoạt động của mình. Thậm chí lúc này, lượng khách hàng đến gửi tiền còn đông hơn trước lúc xảy ra sự cố. Có thể thấy nguyên nhân đặt ACB trước rủi ro thanh khoản trong trường hợp này xuất phát từ nguyên nhân bên ngoài là “ tin đồn thất thiệt” (TGĐ ACB bỏ trốn) dẫn đến việc rút tiền hàng loạt. Đây là nguyên nhân được đánh giá khiến “các ngân hàng khó có thể dùng công cụ thị trường để điều tiết và có hiệu quả thanh khoản của ngân hàng”. Sự cố này chỉ thực sự diễn ra trong một thời gian rất ngắn (khoảng 3 ngày) nhưng có tính chất vô cùng nghiêm trọng. Cũng là lần đầu tiên ngành ngân hàng và nền kinh tế Việt Nam phải đối phó với một tình huống đặ biệt như vậy. Nếu không nhờ những biện pháp tích cực, đồng bộ và hợp lý thì nguy cơ xảy ra một hiệu ứng domino trong Hội Ngộ 20
  29. 29. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng toàn ngành ngân hàng ( người dân sẽ rút tiền ở tất cả các ngân hàng) là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Lúc đó thì hậu quả thật khó mà tưởng tượng nổi. Ngày 21/08/2012, thị trường tài chính Việt Nam nói chung và Ngân hàng ACB nói riêng đã rúng động mạnh chưa từng có trước thông tin “Bầu” Kiên – Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập ACB bị bắt giam để điều tra về các sai phạm trong hoạt động kinh tế. Mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng của sự việc này, ngay lập tức đã được thể hiện. Chỉ trong vòng 3 ngày sau đó, vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đã bốc hơi 5,6 tỷ USD, chưa kể đến chuỗi phiên giảm điểm kéo dài sau đó. Hàng nghìn tỷ đồng đã bị rút khỏi ACB chỉ trong vài ngày. Sóng gió liên tiếp ập đến với ACB. Ba ngày sau khi Bầu Kiên bị bắt giam, như một hệ quả, ông Lý Xuân Hải – nguyên TGĐ ACB cũng bị bắt giam. Mức độ nghiêm trọng của sự việc chưa dừng lại ở đó khi hơn một tháng sau, ngày 27/09/2012, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị - Trần Xuân Giá và 3 nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị ACB lần lượt từ nhiệm và bị khởi tố. Từ vụ việc này, Ngân hàng nhà nước kêu gọi người dân gửi tiền tại ACB hoàn toàn yên tâm. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang theo dõi sát diễn biến thị trường tiền tệ, trường hợp cần thiết, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản để ổn định và đảm bảo an toàn hệ thống. 2.3.2 Rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng Phương Nam chi nhánh Hà Nội (2005) Trong suốt thời gian hoạt động của Ngân hàng Phương Nam tình trạng căng thẳng thanh khoản không thường xuyên xảy ra. Tuy nhiên, có những sự cố làm xôn xao dư luận, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của Ngân hàng trong một vài thời điểm nhất định do khách hàng đến rút tiền đông hơn bình thường. Vào tháng 7/2005, tại Ngân hàng Phương Nam – Phòng giao dịch số 1 Hà Nội cho vay tiêu dùng đối với cán bộ nhân viên tại một số đơn vị. Tuy nhiên, sau đó có đơn kiện về việc 40 giáo viên trường tiểu học Xuân Giang huyện Sóc Sơn có tên đứng vay tại Ngân hàng Phương Nam nhưng thực chất là họ không nhận được tiền. Sự việc xảy ra vào ngày 22/07/2005 sau khi bản tin thời sự trên VTV3 vào tối hôm trước đã Hội Ngộ 21
  30. 30. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng phát tin về việc có dấu hiệu lừa đảo tại Ngân hàng Phương Nam. Người dân Hà Nội đã hoang mang và đến chi nhánh Ngân hàng Phương Nam tại Hà Nội rút tiền tiết kiệm trước hạn. Tuy nhiên vụ việc chỉ diễn ra trong vòng 1 ngày (22/07/05) và nhanh chóng được Ban Giám đốc chi nhánh hà Nội, phối hợp với đại diện Ngân hàng Nhà nước tại Hà Nội và bảo hiểm tiền gửi giải quyết. Người dân đa số là đến tìm hiểu thông tin hơn là đến rút tiền. Bởi thực chất, khả năng thanh khoản của Ngân hàng Phương Nam tại thời điểm đó rất an toàn (quỹ dự phòng xử lý ruit ro tại thời điểm đó là 30 tỷ đồng). Đồng thời, sáng hôm xảy ra sự việc, chi nhánh Ngân hàng Phương Nam tại Hà Nội đã rút 53 tỷ đồng từ tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước để đề phòng trường hợp khách hàng đến rút tiền quá nhiều, trong khi tổng dư nợ đến thời điểm đó của các khoản vay tiêu dùng tại trường tiểu học Xuân Giang chỉ khoảng 500tr đồng. Sự việc nhanh chóng ổn định nhưng cũng đã ảnh hưởng đến uy tín cũng như khả năng thanh khoản của Ngân hàng phương Nam trong một thời gian nhất định. 2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG RỦI RO THANH KHOẢN TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY 2.4.1 Kết quả đạt được Thành quả lớn nhất của các NHTM Việt Nam trong việc rủi ro thanh khoản mấy năm qua là đã có sự phối hợp kịp thời giữa Ngân hàng Nhà Nước và Ngân hàng Thương mại khi có rủi ro thanh khoản phát sinh. Nếu rủi ro thanh khoản xảy ra tại một ngân hàng đơn lẻ thì Ngân hàng Nhà nước sẽ ngay lập tức can thiệp và hỗ trợ thanh khoản để giảm thiểu rủi ro cho Ngân hàng và tránh được hiệu ứng lây lan cho toàn hệ thống. Thứ hai, các NHTM Việt Nam trong thời gian qua đã chú trọng hơn trong công tác an toàn thanh khoản, thể hiện ở chỗ hệ số CAR của các NHTM đã dần được nâng lên nhằm đạt đúng quy định tối thiểu của NHNN là 9%. Đồng thời, tỷ lệ dự trữ tiền mặt, chỉ số chứng khoán thanh khoản và lượng dự trữ thanh khoản cũng được tăng lên từ năm 2008 đến 2010 cho thấy các NHTM đã chủ động hơn trong công tác quản trị rủi ro thanh khoản. Thứ ba, các NHTM Việt Nam đã có nhận thức về tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro thanh khoản thể hiện ở chỗ, mỗi NHTM đã thành lập hội đồng ALCO. Việc ra đời của ALCO là một trong những yếu tố quan trọng nhằm tăng cường công tác Hội Ngộ 22
  31. 31. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng quản trị rủi ro cũng như đặt ra những yêu cầu mới cho công tác quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế. Thứ tư, ngoài các biện pháp đo lường, phân tích và kiểm soát rủi ro thanh khoản, các NHTM Việt Nam đã chủ động có các biện pháp tải trợ cho rủi ro thanh khoản để đề phòng trong trường hợp thanh khoản xấu nhất xảy ra thì nó cũng không ảnh hưởng quá nặng nề đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thông qua việc NHTM trích lập quỹ dự trữ thanh khoản, ký kết với quỹ Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam các điều khoản đặc biệt. Bên cạnh đó, bằng việc quản lí vốn tập trung tại Hội sở chings đã góp phần giúp NHTM giảm thiểu rủi ro thanh khoản cho các chi nhánh. 2.4.2 Những điểm tồn tại Bên cạnh những thành quả đạt được, các NHTM Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều điểm bất cập trong công tác quản trị rủi ro thanh khoản. Thứ nhất, phương pháp quản trị rủi ro còn lạc hậu và thiếu tính thống nhất. Thứ hai, một số NHTM Việt Nam chưa áp dụng đúng nội dung của quản trị rủi ro thanh khoản. Hầu hết các NHTM Việt Nam vẫn còn nhiều thiếu sót trong quản trị rủi ro. Nếu các ngân hàng có thể đo lường bằng các chỉ số thanh khoản thì khả năng nhận diện lại còn yếu kém, và ngược lại, một khi nhận diện được rồi nhưng vì những lí do lợi nhuận, các NHTM vẫn chưa chủ động phòng ngừa cho rủi ro đó. Thứ ba, hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam còn bị động và chịu nhiều tác động của chu kỳ kinh doanh cũng như chính sách quản lý vĩ mô của nền kinh tế. Thời điểm đầu năm 2011, khi NHNN chủ trương chính sách tiền tệ thắt chặt bằng việc quy định trần lãi suất huy động là 14%, các NHTM đã có những biện pháp chui lãi suất nhằm tăng nguồn vốn huy động cho bản thân ngân hàng. Đây là một trong những dấu hiệu cho thấy các NHTM Việt Nam đang đối diện với rủi ro thanh khoản và là bằng chứng chứng tỏ các NHTM Việt Nam chua chủ động trong công tác quản trị rủi ro thanh khoản. 2.4.3 Nguyên nhân của những tồn tại 1) Nguyên nhân chủ quan Hội Ngộ 23
  32. 32. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng Thứ nhất, nhận thức về quản trị rủi ro thanh khoản của một số NHTM Việt Nam còn hạn chế: một sự chủ quan, một kế hoạch tăng trưởng tín dụng, mở rộng mạng lưới quá nhanh so với nội tại của Ngân hàng, khả năng quản lý chưa theo kịp với biến động nhanh chóng của thị trường là nguyên nhân dẫn đến căng thẳng thanh khoản trong một số NHTM thời gian qua. Các NHTM chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa ALCO và bộ phận huy động vốn – giữ vai trò báo cáo chi tiết các nguồn vốn lớn của tổ chức và cá nhân, với bộ phận giao dịch, thông tin tuyên truyền, quan hệ quốc tế, tiếp thị và tín dụng. Bản thân công tác quản trị rủi ro thanh khoản còn khá mới mẻ và chưa nhận được sự lưu tâm của các nhà quản trị ngân hàng. Do sức ép tăng trưởng và lợi nhuận, các nhà quản trị vẫn thường nhấn mạnh vào rủi ro lãi suất, rủi ro rín dụng…mà quên mất rủi ro thanh khoản – rủi ro quan trọng và nguy hiểm nhất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thứ hai, trình độ của cán bộ quản trị rủi ro còn yếu kém: Chất lượng nguồn nhân lực là nguyên nhân sâu xa nhất của những rủi ro mang tính chủ quan trong hoạt động ngân hàng. Nếu cán bộ quản trị rủi ro thanh khoản còn non kinh nghiệm và yếu kém về kiến thức thì việc nhận diện, phân tích nguyên nhân, lượng hóa rủi ro thanh khoản sẽ bị sai lệch, ảnh hưởng đến toàn hệ thống. Thứ ba, mức độ hợp tác giữa các NHTM vẫn còn hạn chế, thiếu hợp tác trong chia sẻ kinh nghiệm và chính sách quản trị rủi ro thanh khoản. 2) Nguyên nhân khách quan Thứ nhất, chính sách tiền tệ còn thiếu nhất quán và còn quá nhiều mục tiêu đã làm cho NHNN trong một vài trường hợp trở nên khó khăn hơn trong việc lựa chọn công cụ tác động, nhất là trong điều kiện kinh tế Việt Nam, các công cụ điều tiết vĩ mô còn chưa hoàn thiện và chưa nhiều. Thứ hai, đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi: những điểm yếu trong khả năng thanh khoản nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung của nhóm ngân hàng được thể hiện ở đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi: Năng lực quản lí và mức độ tác động của các chính sách tiền tệ của NHNN còn yếu và chưa đồng bộ, quy mô NHTM Việt Nam còn nhỏ, kỹ năng quản trị thấp, nền tảng công nghệ chưa hiện đại…là những đặc trưng dễ thấy. Hội Ngộ 24
  33. 33. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng Thứ ba, sự thiếu minh bạch, công khai hóa thông tin: Các thông tin chính xác về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa minh bạch. Ở Việt Nam hiện nay, ngoài trung tâm thông tin tín dụng của NHNN CIC cũng chưa có một công ty định mức tín dụng chuyên nghiệp nào cung cấp dịch vụ điều tra, phân tích luồng thông tin tài chính, định mức tín nhiệm và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc tế nhằm hỗ trợ NHTM trong công tác thẩm định khách hàng để cho vay. Chính việc thiếu hụt những thông tin đa dạng, chuẩn xác đó đã khiến cho chất lượng tín dụng của các NHTM không cao, tiềm ẩn nhiều rủi ro, gây khó khăn trong việc thu hồi khoản tín dụng, do đó cũng dễ dàng đẩy NHTM vào trạng thái rủi ro thanh khoản. Hội Ngộ 25
  34. 34. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG HỆ THỐNG CÁC NHTM VIỆT NAM Rủi ro thanh khoản không chỉ là nỗi lo của các NHTM Việt Nam mà còn là một mối quan tâm hàng đầu của các cấp quản lý vĩ mô về tài chính tiền tệ. Trong quy định của Thống đốc NHNN về xếp loại NHTMCP, khả năng thanh khoản được đưa vào một trong 5 tiêu chí đánh giá xếp loại NHTM. Như vậy, có thể thấy quản trị rủi ro trong thanh khoản đóng vai trò vô cùng quan trọng đối vói hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Một số giải pháp được đưa ra với Ngân hàng thương mại như sau: 3.1 VỀ PHÍA CHÍNH PHỦ 3.1.1 Một ngân hàng trung ương độc lập và đủ mạnh Trong đề án phát triển ngân hàng nhà nước, Chính Phủ chưa nêu rõ mô hình Ngân hàng Nhà nước sẽ theo mô hình nào: trực thuộc Chính phủ hay độc lập với Chính Phủ. Tuy nhiên, cho dù áp dụng mô hình nào đi nữa, thì ngân hàng cần quan tâm đến việc nâng cao vị thế và tính độc lập của Ngân hàng nhà nước với Chính Phủ. Như vậy ngân hàng nhà nước mới có thể đưa ra các quyết định điều hành chính sách tiền tệ mộtt cách nhanh chóng, nhằm tác động đến nền kinh tế một cách kịp thời và mang lại hiệu quả. 3.1.2 Hoàn thiện hệ thống luật pháp đáp ứng yêu cầu hội nhập Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Vì thế việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý nói chung và hệ thống hành lang pháp lý về hoạt động ngân hàng nói riêng là cần thiết và cấp bách. Trong thời gian tới cần tập trung triển khai xây dựng Luật ngân hàng nhà nước, luật các tổ chức tín dụng, Luật giám sát hoạt động ngân hàng và luật bảo hiểm tiền gửi, rà soát sửa đổi hệ thống văn bán pháp lý quy định trong lĩnh vực ngân hàng đảm bảo phù hợp với cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm xây dựng hệ thống ngân hàng thương mại lành mạnh, minh bạch, vận hành theo cơ chế thị trường có sự kiểm soát hợp lý của Hội Ngộ 26
  35. 35. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng Chính phủ. Cần quy định chức năng, nhiệm vụ của từng loại hình ngân hàng: thương mại, đầu tư, chính sách phát triển để tránh những đặc điểm riêng có của loại hình ngân hàng này trở thành lợi thế cạnh tranh không công bằng với loại hình ngân hàng khác. Trong dự thảo luật bảo hiểm tiền gửi, cần nâng mức tiền gửi được bảo hiểm làm cho người gửi tiền yên tâm hơn, tránh tình trạng rút tiền hàng loạt. Điều này sẽ giúp ngân hàng thương mại ổn định được nguồn tiền gửi, nhất là khi xảy ra tình trạng căng thẳng thanh khoản. 3.1.3 Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước Tiến hành cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước để tăng năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Cùng với tiến trình hội nhập và các cam kết quốc tế có thể giảm dần tỉ lệ nắm vốn cổ phần của nhà nước trong các ngân hàng này sau khi cổ phần hóa 3.2 VỀ PHÍA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3.2.1 Đảm bảo vốn tự có ở mức cần thiết Ngân hàng thương mại nên duy trì một mức vốn tự có hợp lí, cân đối so với quy mô và phạm vi hoạt động của ngân hàng. Các ngân hàng thương mại cần xây dựng phương án tăng vốn để đạt mức vốn cần thiết quy định . Thực hiện việc phát hành giấy tờ có giá, điều chỉnh cơ cấu cho vay vào các lĩnh vực nhạy cảm và rủi ro như chứng khoán, bất động sản và tiêu dùng. Các ngân hàng đều phải duy trì một tỷ lệ dự trữ (bao gồm tiền mặt trong ngân hàng, tiền gửi tại Ngân hàng Trung ương và các tài sản có tính lỏng cao khác). Làm như vậy để đảm bảo duy trì dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Trung ương và để đối phó với các dòng tiền đi ra. Việc kết hợp giữa dự trữ sơ cấp và dự trữ thứ cấp sẽ giúp ngân hàng chủ động vừa đối phó với rủi ro thanh khoản vừa có thu nhập hợp lý. 3.2.2 Đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa tài sản có và tài sản nợ Thực hiện việc cơ cấu lại tài sản nợ và tài sản có cho phù hợp. Đây là công việc hết sức quan trọng để quản lý rủi ro thanh khoản của các NHTM. Các ngân hàng cần xem lại cơ cấu danh mục tài sản nợ, tài sản có cho phù hợp, nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro Hội Ngộ 27
  36. 36. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng có thể xảy ra, đó là cơ cấu lại nguồn vốn huy động và cho vay trên thị trường; cơ cấu lại dư nợ cho vay ngắn hạn với cho vay trung hạn, giữa nguồn huy động ngắn hạn dùng để cho vay trung, dài hạn. Gắn rủi ro thanh khoản với rủi ro thị trường trong quản trị 3.2.3 Tăng cường công tác dự báo các điều kiện kinh tế vĩ mô Điều kiện kinh tế vĩ mô thay đổi có thể ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách ban hành liên tiếp hàng loạt các giải pháp mạnh như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản, áp trần lãi suất huy động ... thì khả năng thanh khoản của các Ngân hàng thương mại Việt Nam gặp khó khăn. Bởi vì trước đó, có tình trạng dư thừa vốn khả dụng đã xảy ra ở một số Ngân hàng. Các Ngân hàng này đã giảm lãi suất huy động tiền gửi. Nhưng khi điều kiện kinh tế vĩ mô thay đổi, các Ngân hàng này trở nên lúng túng. Điều này chứng tỏ việc tăng cường và nâng cao hiệu quả của công tác dự báo kinh tế ở các Ngân hàng là cần thiết. 3.2.4 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống đánh giá nội bộ Nâng cao chất lượng công tác kiểm soát nội bộ, để phát hiện những tiềm ẩn rủi ro, có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Nhưng cũng không nên quá nhấn mạnh đến kiểm tra, kiểm soát nội bộ dễ làm mất tính sáng tạo trong công việc. Xây dựng hệ thống khuyến khích hữu hiệu, bằng việc xây dựng mối quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao động, trên cơ sở cơ chế thu nhập khen thưởng và xử phạt nội bộ để khuyến khích người lao động năng động, sáng tạo, làm việc với năng suất và chất lượng cao. Ngoài ra các NHTM cần nâng cao hiệu quả hệ thống kiểm toán nội bộ. Định kỳ, kiểm toán nội bộ đánh giá hoạt động kinh doanh, tập trung vào các rủi ro chiến lược và rủi ro hoạt động, từ đó đưa ra các khuyến nghị để cấp quản lý rà soát, xác định và giải quyết. Yêu cầu bộ phận kiểm toán nội bộ phải có hiểu biết toàn diện về toàn bộ hoạt động ngân hàng, các vấn đề pháp lý và quy định. 3.2.5 Hoàn thiện và đổi mới công tác quản trị rủi ro thanh khoản Cải thiện hệ thống báo cáo để Ban lãnh đạo cập nhật một cách chi tiết thông tin về tình trạng vốn tại ngân hàng, đặc biệt về mặt thời gian của các nguồn cung cầu thanh Hội Ngộ 28
  37. 37. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng khoản thông qua việc sử dụng mô hình quản lý theo kỳ hạn của các dòng tiền vào, dòng tiền ra. Hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro thanh khoản, đảm bảo bộ phận quản trị rủi ro thanh khoản luôn được cung cấp thông tin kịp thời, chính xác. Đồng thời, tổ chức bộ máy giám sát, đảm bảo bộ phận quản trị thanh khoản thực hiện có hiệu quả. Thực hiện tốt quản lý rủi ro lãi suất khe hở lãi suất: Cần hoàn thiện các quy định liên quan đến huy động và cho vay (nhất là huy động, cho vay trung, dài hạn) theo lãi suất thị trường; cần có cách giải quyết khoa học để không xảy ra tình trạng các khách hàng gửi tiền rút tiền trước hạn khi lãi suất thị trường tăng cao hoặc khi có các đối thủ khác đưa ra lãi suất cao, hấp dẫn khách hàng hơn. Hiện nay, xuất hiện một thực tế là các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng đến hạn không chịu trả nợ vay vì họ e ngại sau khi trả sẽ rất khó vay lại được tiền từ ngân hàng. Vì thế, họ sẵn sàng chịu phạt lãi suất quá hạn ghi trong hợp đồng vì như vậy, so ra vẫn còn thấp hơn lãi suất cho vay mới. Chính điều này đã gây ảnh hưởng lớn đến khả năng thanh khoản của ngân hàng. - Thực hiện tốt quản lý rủi ro kỳ hạn: Sự không cân đối về kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng là lý do quan trọng làm cho các ngân hàng gặp khó khăn thanh khoản trong thời gian qua. Vấn đề sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn với tỷ trọng lớn hoặc cùng là ngắn hạn và trung, dài hạn nhưng thời hạn cụ thể khác nhau (ví dụ như huy động trung, dài hạn hai năm nhưng cho vay trung hạn ba năm) cũng làm cho ngân hàng khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền ra và dòng tiền vào của mình. - Sử dụng các mô hình hạn chế rủi ro: Thị trường tiền tệ phái sinh ở Việt Nam còn rất hạn chế, tuy nhiên, sau đợt biến động của thị trường tiền tệ trong thời gian qua, chắc chắn các ngân hàng sẽ quan tâm nhiều hơn và nó sẽ giúp cho ngân hàng quản lý tốt hơn tài sản nợ, tài sản có của mình. Thị trường REPO là công cụ khá hiệu quả trong việc tạo ra tính lỏng cao cho các chứng khoán nợ và cơ cấu tài sản có nhằm hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng một cách nhanh chóng. Forward và Future cũng là những công cụ để cầm giữ lãi suất giao dịch nhằm hạn chế rủi ro khi lãi suất thị trường biến động. Đặc biệt SWAP là công cụ quan trọng để các ngân hàng có thể cơ cấu lại tài sản nợ, tài sản có Hội Ngộ 29
  38. 38. Quản trị rủi ro thanh khoản tại NTHM GVHD: Hồ Văn Dũng trên bảng cân đối tài sản của mình, nhằm hạn chế các tác động của rủi ro lãi suất. rủi ro kỳ hạn. Ngoài ra, có thể áp dụng phương pháp rủi ro thanh khoản của SMBC là “Công khai thông tin nhằm tăng khả năng thanh khoản”. Các ngân hàng cần đảm bảo cung cấp thông tin một cách liên tục cho công chúng, các chủ nợ và đối tác lớn. Công khai thông tin là một phần quan trọng trong việc quản lý khả năng thanh khoản. Kinh nghiệm cho thấy khi có những dòng thông tin liên tục về ngân hàng thì việc quản lý uy tín của ngân hàng trên thị trường trong những giai đoạn khó khăn sẽ dễ dàng hơn. Ngân hàng phải quyết định cách thức làm việc với báo chí và truyền thông khi có các thông tin tiêu cực về ngân hàng. Nếu thông tin bất lợi về ngân hàng được công bố thì ngân hàng cần chuẩn bị sẵn sàng thông báo ngay lập tức về những hành động chấn chỉnh của mình đang được thực hiện. Điều này sẽ làm giảm bớt sự lo ngại của các đối tượng tham gia thị trường và chứng minh là các cấp quản lý cao nhất của ngân hàng đang chú ý giải quyết những vấn đề còn tồn tại. 3.2.6 Đẩy mạnh công tác huy động vốn và đa dạng hóa nguồn vốn huy động NHTM nên tăng tỷ trọng tiền gửi dân cư bằng các biện pháp khuyến mãi cho khách hàng, miễn sao cho đúng qui định về lãi xuất trần huy động mà NHNN quy định vừa có thể đảm bảo cho ngân hàng không rơi vào tình trạng rủi ro thanh khoản. Ngân hàng cần tính toán hợp lý giữa mức lãi suất và kỳ hạn đồng thời duy trì mức dự trữ thanh khoản hợp lý đẻ đảm bảo tôt khả năng thanh khoản khi có nhu cầu. Ngoài ra, để tăng cường công tác huy động vốn, quản lý tài sản nợ, NHTM nên tập trung vào thị trường bán lẻ Ngân hàng. Đây là một kênh huy động vốn rất có tiềm năng và có thể mạng lại nhiều tiện ích cho Ngân hàng cũng như khách hàng. Ngoài ra, NHTM có thể đa dạng hóa hình thức huy động vốn như: phát hành trái phiếu, cổ phiếu, sử dụng các biện pháp khuyến khích thu hút khách hàng, vận dụng linh hoạt các lãi suất nhằm tăng nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế và dân cư đẻ góp phần tăng trưởng nguồn huy động vốn. Hội Ngộ 30

×