Ce diaporama a bien été signalé.
Nous utilisons votre profil LinkedIn et vos données d’activité pour vous proposer des publicités personnalisées et pertinentes. Vous pouvez changer vos préférences de publicités à tout moment.

Giáo trình Van công nghiệp của Nguyễn Thanh Sơn

35 474 vues

Publié le

Van là một thiết bị cơ khí được dùng trong công nghiệp đường ống để điều chỉnh dòng chảy của lưu chất. Giáo trình Van công nghiệp được biên soạn bởi Kỹ sư Nguyễn Thanh Sơn sẽ giúp các bạn hiểu được nguyên lý cấu tạo và phạm vi ứng dụng của các loại Van dùng trong công nghiệp.

Tải giáo trình van công nghiệp tại http://www.vinamain.com/2010/09/giao-trinh-van-cong-nghiep.html

Publié dans : Technologie
  • Login to see the comments

Giáo trình Van công nghiệp của Nguyễn Thanh Sơn

  1. 1. Giáo trìnhVAN CÔNG NGHIỆPBiên soạn: KS. Nguyễn Thanh Sơn
  2. 2. Giáo trình Van công nghiệp2/56NỘI DUNG1. VAN CỬA (GATE VALVES): .................................................................................................32. VAN ĐIỀU TIẾT (GLOBE VALVES): .....................................................................................113. VAN NÚT (PLUG VALVES):................................................................................................184. VAN BI (BALL VALVES): ....................................................................................................225. VAN BƯỚM (BUTTERFLY VALVES): ..................................................................................246. VAN MÀNG (DIAPHRAGM VALVES): ................................................................................277. VAN MỘT CHIỀU (CHECK VALVES): ..................................................................................298. VAN AN TOÀN: ................................................................................................................349. VẬN HÀNH VAN:..............................................................................................................3510. QUY TRÌNH VẬN HÀNH (OPERATING PROCEDURES):.......................................................3711. VAN ĐIỀU KHIỂN (CONTROL VALVES): .............................................................................4212. XỬ LÝ SỰ CỐ:...................................................................................................................55
  3. 3. Giáo trình Van công nghiệp3/56Van là một thiết bị cơ khí được dùng trong công nghiệp đường ống để điều chỉnh dòngchảy của lưu chất. Giáo trình van công nghiệp giúp các bạn hiểu được nguyên lý cấutạo và phạm vi ứng dụng của các loại Van dùng trong công nghiệp.Các vị trí vận hành của van Khi van đóng hoàn toàn thì sẽ không có dòng chảy của vật chất đi qua. Nếu như van chỉ mở một phần thì chỉ có một phần của dòng chảy đi qua, khivan ở vị trí này thì nó được gọi là đang ở vị trí điều tiết lưu lượng của dòngchảy. Khi van mở hoàn toàn thì ta có dòng chảy đi qua van là cực đại.1. VAN CỬA (GATE VALVES)Là một trong những loại van được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp. Van cửađóng dòng chảy khi chúng chắn ngang qua toàn bộ dòng chảy. Khi van được mởhoàn toàn thì cửa của chúng không nằm trong dòng chảy của vật chất. Lúc này độcản trở dòng chảy của van là rất nhỏ có nghĩa là sự sụt áp hay mất năng lượng khivật chất đi qua van được hạn chế ở mức nhỏ nhất.
  4. 4. Giáo trình Van công nghiệp4/56Các phần tử liên kết của vanLoại van này liên kết với đường ống bằng mặt bích ở cả hai đầu. Van và đường ốngđược nối với nhau bằng các bulông. Gioăng đệm được chèn vào giữa hai mặt bích củavan và đường ống để sự nối có được độ kín cao.Ngoài ra còn có các dạng nối khác giữa đường ống và thân van. Các phương pháp nàybao gồm: Mối nối lắp ghép ren, nối bằng then chốt, nối bằng phương pháp hàn gối đầu.
  5. 5. Giáo trình Van công nghiệp5/56Trong nắp van ở phía trên có khoảng không để có thể kéo tấm cửa của van lên khi mởvan. Có rất nhiều dạng nối giữa nắp van và thân van để hình thành nên một mối lắpghép kín. Chúng có thể là dạng lắp ghép bằng mặt bích, bằng cách lắp ghép ren, haybằng mối lắp ghép ren có hàn ở đường mép.Cần van (stem)
  6. 6. Giáo trình Van công nghiệp6/56Cửa van được gắn với cần van. Phía trên nắp van có nắp bịt kín, nắp này có chức nănglàm kín không cho vật chất rò rỉ ra ngoài. Nắp làm kín được nhồi vật liệu bít kín. Đầuphía trên của cần van được nối với tay quay.Trong hình vẽ là loại nối bằng ren. Khi vặn tay quay thì cần van sẽ chuyển động lênxuống để đóng hay mở van. Nên chúng ta cũng có thể gọi đây là loại van có cần chuyểnđộng. Khi quan sát vị trí của cần van ta có thể nhận biết được van đang ở vị trí đónghay mở.
  7. 7. Giáo trình Van công nghiệp7/56Hình trên là một lọai van có cần chuyển động khác. Nắp van được tạo ren ở phía trong.Phần ren của nắp van và cần van ăn khớp với nhau. Đầu trên của cần van được nối vớitay quay bằng mối nối không chuyển động. Khi cần van chuyển động lên hay xuống thìtay quay và cửa van cũng chuyển động theo.
  8. 8. Giáo trình Van công nghiệp8/56Dưới đây là một loại van khác có mối lắp ghép ren ở phía trong. Ở loại này có mối lắpghép ren giữa cửa van và cần van. Đầu trên của cần van gắn chặt với tay quay.Thiết kế cửa van:Cửa van là phần dùng để điều chỉnh dòng chảy.Khi cửa van chuyển động xuống chúng sẽ chặn đứng dòng chảy và tạo nên độ kín giữanó và hai vòng tiếp xúc. Khi cửa van chuyển động lên xuống sẽ sinh ra lực ma sát giữacửa van và hai vòng tiếp xúc do đó sẽ gây ra sự mài mòn các phần tiếp xúc này.Mặt khác dòng chảy của vật chất luôn có xu hướng mài mòn những phần tiếp xúc với.Khi dòng chảy của vật chất dưới áp suất cao thì sự mài mòn ngày càng lớn.Cửa van trong trường hợp B sẽ bị mài mòn nhiều hơn trong trường hợp A. Nếu cửavan và các vòng tiếp xúc bị mài mòn nhiều thì chúng sẽ không còn tác dụng làm kíntoàn bộ dòng chảy khi đang ở vị trí đóng. Vì van cửa bị mài mòn không đồng đều khi ởvị trí điều tiết nên thông thường không sử dụng loại van này vào mục đích điều tiếtdòng chảy.
  9. 9. Giáo trình Van công nghiệp9/56Cửa van cũng có nhiều dạng điều tiết khác nhau. Loại thông dụng nhất là cửa liền làchế tạo chỉ được có một tấm.Trong loại cửa này khi ở vị trí đóng thì áp suất của dòng chảy chỉ tác động lên một mặtcủa cửa. Một dạng cửa van khác là cửa gồm có hai cánh song song. Loại cửa này gồmcó nhiều phần ghép lại với nhau. Khi đóng hai cửa được chèn chặt bằng hai tấm kimloại.
  10. 10. Giáo trình Van công nghiệp10/56Khi tấm phía dưới chạm điểm dừng thì nó không thể tiến thêm được nữa. Khi đó nếucần van tiếp tục chuyển động xuống nó sẽ tạo lực tác dụng lên tấm phía dưới. Lúc nàycả hai tấm sẽ đẩy hai cánh ra hai phía. Do đó trong loại van cửa này ta có thể có đượcđộ kín cao.
  11. 11. Giáo trình Van công nghiệp11/56Phần cánh nào tiếp xúc với dòng chảy tới sẽ bị mài mòn nhiều hơn nhưng vì độ kínđược tạo nên bởi cả hai cánh nên khi một cánh bị mài mòn ta vẫn có được độ kín đòihỏi. Khi mở van, những chuyển động đầu tiên của tay quay sẽ làm giảm lực tác dụnglên hai cửa.Trong một số hệ thống có sự thay đổi nhiệt độ lớn, sự giãn nở đường ống sẽ làm oằnthân van tạo nên lực tác dụng rất lớn lên cửa van và có thể làm cho cửa van không thểchuyển động được.Van có hai cửa song song được dùng trong trường hợp này. Vì khi tấm phía trên đượckéo lên sẽ giảm được lực tác dụng lên cửa van làm cho cửa van có thể chuyển độngmột cách dễ dàng hơn. Vì cấu tạo của loại cửa van này gồm nhiều phần ghép lại vớinhau nên chúng thường bị trục trặc nếu như các tạp chất bị tắc kẹt hay lắng đọngtrong đó nên loại van này thường được dùng cho các đường ống dẫn các sản phẩm cóđộ sạch cao.Một dạng cửa van khác là cửa đúc liền có rãnh ở giữa.2. VAN ĐIỀU TIẾT (GLOBE VALVES)Dòng chảy đi qua van cửa là dòng chảy thẳng hướng. Trong van điều tiết dòngchảy khi qua van bị chuyển hướng.
  12. 12. Giáo trình Van công nghiệp12/56
  13. 13. Giáo trình Van công nghiệp13/56Sự đổi hướng dòng chảy này tạo nên sự cuộn xoáy và áp suất của dòng chảy qua vancũng bị giảm nhiều hơn, do đó năng lượng đòi hỏi để chuyển chất lỏng qua van điềutiết cũng lớn hơn. Trong van điều tiết phần đáy của cửa van nằm song song với hướngcủa dòng chảy. Trong van cửa, lực ma sát giữa vòng làm kín và van chỉ được chấm dứtkhi van được mở hoàn toàn. Còn trong van điều tiết cửa van không trượt dọc theo bềmặt của vòng làm kín, do vậy mọi tiếp xúc giữa cửa van và vòng làm kín sẽ chấm dứtkhi bắt đầu có dòng chảy.
  14. 14. Giáo trình Van công nghiệp14/56Đối với van cửa khi thực hiện quá trình đóng và mở van sẽ xảy ra sự mài mòn do lựcma sát giữa các vòng làm kín và cửa van còn đối với van điều tiết thì chỉ tạo nên sự màimòn nhỏ. Do vậy trong các công việc đòi hỏi phải vận hành van một cách thường xuyênthì van điều tiết là loại thích ứng hơn.Khi van cửa được dùng trong quá trình điều tiết thì sự mài mòn của dòng chảy tạonên độ mòn không đồng đều ở phần đáy của cửa van. Còn trong van điều tiết khiở vị trí điều tiết thì toàn bộ phần cửa van nằm trong dòng chẩy do đó sự mài mònxảy ra đồng đều hơn. Khi vòng làm kín và cửa van bị mài mòn đồng đều nhau thìsau một thời gian sử dụng lâu dài vẫn giữ được độ kín của nó. Vì lý do này nênchúng thường được dùng trong quá trình điều tiết dòng chảy.Trong hình vẽ mô tả van đang ở vị trí điều tiết. Khi dòng chảy từ điểm A tới điểmB thì khả năng cửa van đóng bất thình lình và tắc nghẽn khi nó ở gần với vòng làmkín. Để có được sự vận hành ổn định, van điều tiết phải được lắp đặt vào hệthống theo hướng dòng chảy vật chất đi từ phần dưới của cửa van lên.Van điều tiết đôi khi cũng được thiết kế theo dạng góc.
  15. 15. Giáo trình Van công nghiệp15/56Hướng dòng chảy qua van dạng này bị thay đổi ít hơn so với van điều tiết thôngthường nên độ xoáy của dòng chảy và sự sụt áp đi qua van cũng ít hơn.Thiết kế cửa vanCửa van của van điều tiết cũng có nhiều dạng thiết kế khác nhau. Loại thông dụng nhấtlà dạng nút. Loại này có dạng côn ở phần dưới.Vòng làm kín cũng có dạng côn ăn khớp với cửa van. Vì thế nếu như cửa van có khuyếttật một phần thì nó vẫn giữ được độ kín.
  16. 16. Giáo trình Van công nghiệp16/56Có rất nhiều dạng thiết kế cửa nút khác nhau nên trong sử dụng ta phải lựa chọn loạithích ứng cho công việc đòi hỏi.Hình trên mô tả dạng cửa nút thao tác nhanh khi thực hiện việc đóng hay mở dòngchảy chỉ cần những chuyển động nhỏ của cần van. Loại này thường dùng trong quátrình đóng hay mở dòng chảy .Các van điều tiết có cửa van dạng nút thường có nhiều kiểu thiết kế khác nhauVí dụ như cửa dạng chữ V, cửa cân bằng (dạng thẳng ), cửa với đường làm kín, cửadạng chốt. Với các dạng cửa van loại này những chuyển động nhỏ của cần van chỉ tạonên những thay đổi nhỏ trong lưu lượng dòng chảy. Những van điều tiết thường đượcsử dụng ở vị trí mở một phần và vị trí đóng vì mục đích sử dụng loại van này là để dùngđiều tiết dòng chảy. Hình vẽ dưới đây mô tả một dạng khác của van điều tiết chúngđược gọi là đĩa van nhiều thành phần.
  17. 17. Giáo trình Van công nghiệp17/56Cửa van được chế tạo bằng kim loại và lớp vật liệu có tính đàn hồi như cao su. Khiđóng van hoàn toàn vòng làm kín sẽ tiếp xúc với lớp vật liệu đàn hồi.Trong hệ thống ống dẫn đôi khi có chứa các tạp chất rắn, những tạp chất này có thểlắng đọng trên bề mặt vòng làm kín hay cửa van và chúng có thể làm cho van khôngthể đóng được hoàn toàn. Khi sử dụng đĩa nhiều thành phần thì các tạp chất rắn này sẽtiếp xúc với phần vật liệu có tính chất đàn hồi do đó ta vẫn có được độ kín khi van ở vịtrí đóng.Hình vẽ dưới đây mô tả một loại cửa van khác. Trong loại này cửa van và vòng làm kínđều được chế tạo bằng kim loại, khi đóng van nếu như có các tạp chất rắn lắng đọngtrên vòng làm kín hay cửa van thì chúng sẽ bị nghiền nhỏ.
  18. 18. Giáo trình Van công nghiệp18/563. VAN NÚT (PLUG VALVES):
  19. 19. Giáo trình Van công nghiệp19/56Phần điều chỉnh dòng chảy (cửa van) của loại van này có dạng nút. Cửa van được chếtạo bằng kim loại và có khe hở xuyên suốt cửa van cho dòng chảy đi qua. Vị trí của vanđược điều chỉnh bằng việc vặn tay quay.Khi vặn tay quay đi một góc 90ota sẽ có van ở vị trí đóng hoặc mở hoàn toàn. Nếu sosánh với van cửa thì loại van này có độ đóng mở nhanh hơn.Tay quay ở đầu phía trên của cần van trong van nút chuyển động theo cùng một hướngvới khe hở của cửa van. Khi tay quay nằm song song với đường ống thì van ở vị trí mở.Khi van ở vị trí mở hoàn toàn thì dòng chảy đi qua van là đường thẳng còn khi nó ở vịtrí điều tiết thì dòng chảy qua van sẽ tạo xoáy và xảy ra sự sụt áp.Van nút thường không được dùng cho mục đích điều chỉnh dòng chảy vì khi nó ở vị tríđiều tiết thì cửa van sẽ bị mài mòn không đồng đều.
  20. 20. Giáo trình Van công nghiệp20/56Khi ở vị trí đóng thì cửa van và phần thân van phải tạo được độ khít cao. Mỗi lần thayđổi vị trí cửa van thì lực ma sát sẽ tạo ra giữa phần thân và cửa van gây ra sự mài mònthân và cửa van. Khi chúng bị mài mòn tới một mức độ nào đó thì sẽ không còn khảnăng giữ được độ kín khi ở vị trí đóng.Một vài loại van nút có thiết kế lỗ dầu bôi trơn ở phía trên, một loại dầu đặc biệt đượcsử dụng để bôi trơn cửa van để giảm độ ma sát giữa thân van và cửa van và màng dầunày cũng tăng thêm độ kín cho van trong quá trình sử dụng.
  21. 21. Giáo trình Van công nghiệp21/56Hình vẽ dưới đây mô tả một loại van nút không cần có sự bôi trơn.Trong loại này cửa van có thể chuyển động lên xuống cùng với mức làm kín. Khi kéocửa van lên tức là giảm độ ăn khớp giữa cửa van và thân van làm cho cửa van dễchuyển động hơn và giảm lực ma sát giữa cửa van và thân van. Khi cửa van được hạxuống chúng sẽ tạo được mối liên kết kín với thân van.Van nút cũng có thể được chế tạo có nhiều khe hở. Chúng được gọi là van nhiều hướng.Các van nhiều hướng thường được dùng như một thiết bị phân chia dòng chảy. Khi vặntay quay một góc 90othì sẽ làm thay đổi hướng dòng chảy. Đối với mục đích thay đổihướng dòng chảy thì van nhiều hướng có thể thay thế cho nhiều van cửa. Điều này tiếtkiệm được chi phí và làm dễ dàng hơn trong vận hành.
  22. 22. Giáo trình Van công nghiệp22/564. VAN BI (BALL VALVES):Van bi có thiết kế và quá trình vận hành tương tự như van nút.Phần điều chỉnh dòng chảy có cấu tạo tròn và có lỗ cho vật chất đi qua. Bi được giữchặt giữa hai vòng làm kín. Tay quay được lắp ở đầu trên của cần van. Khi vặn tay quay
  23. 23. Giáo trình Van công nghiệp23/56một góc 90othì van sẽ ở vị trí đóng hoặc vị trí mở. Do đó van bi cũng là loại đóng mởnhanh. Vì hình dạng của chúng nên van bi có độ trơn và vận hành được dễ dàng hơnvan nút. Vì thế nên giảm được lực ma sát giữa bi và các vòng làm kín khi vận hành dođó chúng không cần tới sự bôi trơn.Tay quay của van bi cũng giống như van nút nó sẽ nằm song song với dòng chảy khi vanở vị trí mở. Còn khi tay quay nằm vuông góc với đường ống thì nó ở vị trí đóng. Van bicũng có thể được chế tạo để dẫn dòng chẩy theo nhiều hướng.Loại này ngoài việc đóng và mở nó còn có thể đổi hướng đi của dòng chảy. Van này chỉcó độ cản trở dòng chảy nhỏ nên sự sụt áp và hiện tượng tạo xoáy khi dòng chảy quavan cũng rất nhỏ. Van bi thường không dùng cho mục đích điều chỉnh dòng chảy vì khichúng ở vị trí điều tiết thì phần cửa van nằm trong dòng chảy sẽ bị mài mòn nhiều hơn.
  24. 24. Giáo trình Van công nghiệp24/56Để phục vụ cho việc điều tiết dòng chảy thì van bi phải có thiết kế đặc biệt. Cửa vanthuộc loại này là tấm kim loại liền, cửa van chỉ tiếp xúc với vòng làm kín khi nó ở vị tríđóng hoàn toàn. Điều này cho phép dòng chảy đi qua toàn bộ diện tích của cửa van khinó chỉ mở một phần. Vì thế nên nó có thể dùng để điều tiết dòng chảy mà không xảy rasự mài mòn không đồng đều.5. VAN BƯỚM (BUTTERFLY VALVES):
  25. 25. Giáo trình Van công nghiệp25/56
  26. 26. Giáo trình Van công nghiệp26/56Van bướm có cửa là một tấm kim loại liền và có thể xoay 90otrong chu vi vòng làm kín.Tỷ lệ dòng chảy được điều chỉnh bằng việc thay đổi góc của cửa van.Tỷ lệ dòng chảy đạt mức tối đa khi cửa van nằm song song với đường ống. Van bướmcũng thuộc loại đóng mở nhanh. Khi ở vị trí mở thì độ cản trở dòng chảy của cửa van lànhỏ nhất do đó sự tạo xoáy và sụt áp khi dòng chảy đi qua van là rất nhỏ.
  27. 27. Giáo trình Van công nghiệp27/56Khi van bướm chỉ được mở một phần thì dòng chảy được phân chia đồng đều qua cửavan và vòng làm kín. Do đó van bướm cũng có thể được dùng cho quá trình điều tiếtdòng chảy. Khi van bướm ở vị trí điều tiết thì phải chốt nó lại tại vị trí đó vì áp suất củadòng chảy có xu hướng đưa cửa van về vị trí đóng hay mở hoàn toàn.Van bướm có thể được vận hành bằng tay quay hay tay vặn. Trong cả hai trường hợpnày đều cần có thang chỉ vị trí của cửa van trong vận hành.6. VAN MÀNG (DIAPHRAGM VALVES):
  28. 28. Giáo trình Van công nghiệp28/56Loại van này dùng một màng ngăn bằng chất dẻo có tính đàn hồi để điều chỉnh dòngchảy vật chất. Màng ngăn này có chốt nối với chốt đẩy. Chốt đẩy này chuyển động lênxuống nhờ cần van. Khi chốt đẩy được hạ xuống thì nó sẽ nén màng ngăn chặt vào
  29. 29. Giáo trình Van công nghiệp29/56vòng làm kín. Khi đó dòng chảy qua van sẽ chấm dứt. Nếu chốt đẩy được kéo lên thìmàng ngăn sẽ chuyển động theo và bắt đầu có dòng chảy chất lỏng đi qua van. Loạivan này có thể dùng cho cả hai mục đích là đóng và mở dòng chảy cũng như điều tiếtdòng chảy.Màng ngăn họat động như một màng làm kín để điều chỉnh dòng chẩy do sự tiếp xúccủa nó với phần chuyển động của van. Loại van này được dùng đối với các vật chất cótính ăn mòn hay đối với các chất cần có độ sạch cao. Khi vận hành loại van này khôngnên tác động những lực quá mạnh lúc đóng van vì điều này có thể làm kẹt màng ngănở trong vòng làm kín và gây hư hại màng ngăn.7. VAN MỘT CHIỀU (CHECK VALVES):Hình vẽ dưới đây mô tả một kiểu van một chiều.
  30. 30. Giáo trình Van công nghiệp30/56Trong loại van này chỉ có một phần chuyển động là cửa van được gắn liền với thân vanbởi một trục bản lề. Cửa van tự do di chuyển. Khi không có dòng chảy đi qua van, thìcửa van ở vị trí đóng do khối lượng của nó. Giả sử ta có dòng chảy theo hướng từ Asang B, vì cửa van có thể tự do di chuyển nên lực của dòng chảy sẽ nâng cửa van lên vịtrí mở. Khi ngắt dòng chảy thì cửa van sẽ trở lại trạng thái đóng. Điều này ngăn cảnđược chất lỏng chảy ngược trở lại.
  31. 31. Giáo trình Van công nghiệp31/56Van một chiều được dùng để điều chỉnh hướng dòng chảy.Dạng khác của van một chiều.Trong loại này hướng đi của dòng chảy tương tự như trong van điều tiết. Khi có dòngchảy từ A sang B thì lực của dòng chảy sẽ nâng cửa van lên. Khi không có dòng chảy điqua thì cửa van sẽ tự động hạ xuống vị trí đóng ăn khớp với vòng làm kín do tỷ trọngcủa nó. Trong loại van này hướng của dòng chảy luôn đi từ phía dưới cửa van đi lên. Dođó loại van này chỉ sử dụng khi nó được lắp ở vị trí nằm ngang.
  32. 32. Giáo trình Van công nghiệp32/56Van một chiều được lắp ở vị trí thẳng đứng.Khi xuất hiện dòng chảy từ A sang B, lực của dòng chảy sẽ nâng cửa van khỏi vị trí đóng.Nếu như không có dòng chảy từ A qua B nữa thì tỷ trọng của cửa van không thể kéo nóvào vị trí đóng được nữa vì lúc này cửa van ở vị trí nằm ngang.Do vậy loại van một chiều này chỉ hoạt động một cách chính xác khi nó được lắp đặt ởvị trí nằm ngang. Nên loại van này còn được gọi là van một chiều ngang.Van một chiều dạng đứng
  33. 33. Giáo trình Van công nghiệp33/56Khi xuất hiện dòng chảy từ điểm A sang B, lực của dòng chảy sẽ nâng van này lên khỏivị trí đóng. Khi không có dòng chảy nữa thì tỷ trọng của cửa van sẽ kéo nó lại vị trí đóng.Loại van này được lắp đặt để hoạt động ở vị trí đứng.Một loại van một chiều khác.Trong loại van này cửa van có dạng viên bi, nó là phần điều chỉnh dòng chảy vậtchất. Khi xuất hiện dòng chảy thì áp suất hay lực của dòng chảy sẽ nâng viên bi lênkhỏi vòng làm kín. Khi không có dòng chảy nữa thì nó sẽ ở lại vị trí đóng nhờ tỷtrọng. Van một chiều loại này cũng có hai kiểu thiết kế để hoạt động ở vị trí nằmngang và vị trí thẳng đứng.
  34. 34. Giáo trình Van công nghiệp34/568. VAN AN TOÀN:Van an toàn là một cơ cấu van dùng để tự động xả khí, hơi từ trong lò hơi, bồnchứa áp suất hoặc những hệ thống khác khi áp suất hoặc nhiệt độ vượt qúa giớihạn cho phép đã cài đặt trước đó. Chúng thường được gọi một tên thông dụng làvan xả áp suất (pressure relief valves), van xả áp suất và nhiệt độ (T&P valves ortemperature and pressure relief valves).
  35. 35. Giáo trình Van công nghiệp35/569. VẬN HÀNH VAN:
  36. 36. Giáo trình Van công nghiệp36/56Các van lớn thường rất khó vận hành bằng tay. Do vậy người ta lắp motor ở phía trên,motor này được nối với cần van để vận hành một cách dễ dàng.Đôi khi van được lắp đặt ở những khu vực mà không thể với tới được. Nếu như lắpmotor vào van thì ta cũng rất khó để vận hành được motor trong quá trình đóng mởdo khoảng cách quá xa cũng như vì lý do an toàn mà không thể lắp motor được ở vị trínày. Để khắc phục vấn đề này tay quay được thiết kế như một bánh xe truyền động.
  37. 37. Giáo trình Van công nghiệp37/56Tay quay của van được thiết kế có răng ăn khớp với dây xích. Khi kéo dây xích thì tayquay của van cũng chuyển động theo. Điều này khắc phục được khó khăn khi van đượclắp đặt ở những vị trí quá cao mà ta không thể với tới được.Ở một tình huống khác, một ống nối được lắp vào cần van. Mục đích của việc sử dụngống nối là để dễ dàng trong việc vận hành khi van được lắp đặt ở những vị trí thấp haykhó thao tác trong vận hành.Một tình huống khác nữa là van ở vị trí vận hành thuận lợi nhưng việc vận hành đòi hỏiphải dùng một lực lớn, mà không dùng tới motor. Khi đó ta có thể dùng hệ thống bánhrăng để dễ dàng hơn trong vận hành van. Kiểu vận hành này còn được gọi là vận hànhbánh răng.10. QUY TRÌNH VẬN HÀNH (OPERATING PROCEDURES):Các loại van công nghiệp thường được chế tạo để sử dụng trong nhiều năm mà khôngcó trục trặc xảy ra. Quá trình đóng và mở van phải thực hiện một cách từ từ. Nếu thayđổi vị trí của van quá nhanh thì sẽ xẩy ra sự thay đổi đột ngột về nhiệt độ và áp suấttrong đường ống.Ví dụ như van điều chỉnh dòng chảy của hơi nước có nhiệt độ cao mà ta mở van độtngột thì nhiệt độ ở đầu ra của ống sẽ tăng lên nhanh chóng dẫn tới sự giãn nở đột ngột
  38. 38. Giáo trình Van công nghiệp38/56của đường ống và các ứng lực giãn nở ở mối nối giữa van và đường ống cũng tăng lênnhanh chóng. Điều này sẽ làm giảm tuổi thọ của các phần này. Giả sử như trường hợpdưới đây.Khi đóng van nhanh chóng, dòng chảy trong đường ống bất thình lình bị chặn lại, ápsuất tăng lên đột ngột, nếu như áp suất này đủ lớn nó sẽ gây hư hại cho van và ốngdẫn. Hiện tượng này được gọi là sự va chạm thủy lực. Khi van bị tác động của áp suấtcao thường rất khó mở.
  39. 39. Giáo trình Van công nghiệp39/56Trong hình vẽ trên áp suất cao của vật chất sẽ đẩy cửa van về phía vòng làm kín B, làmcho khó khăn trong việc mở van vì lực ma sát tăng lên giữa hai phần này. Giả sử ápsuất được cân bằng giữa hai cửa van.Khi áp suất cân bằng thì có nghĩa là lực ma sát ở hai phía cũng được cân bằng do đóviệc mở van được dễ dàng hơn. Nhiều van có thiết kế đường cân bằng để dễ dàng hơntrong việc mở van.Một van nhỏ được lắp ở đường cân bằng để thực hiện quá trình cân bằng áp suất ở haiphía của van chính, làm cho quá trình vận hành van được thuận tiện và giảm lực ma sátgiữa cửa van và các vòng làm kín. Khi van có thiết kế đường cân bằng ta phải mở vancân bằng đường áp suất trước khi mở van chính.
  40. 40. Giáo trình Van công nghiệp40/56Trong một vài trường hợp nếu như van khó vận hành thì ta phải dùng tới choòng mởvan. Các choòng này có nhiều loại và đủ kích cỡ khác nhau.Loại choòng trên có hai đầu để gắn vào tay quay, còn loại kia chỉ có một đầu và gắn vàophần khung của tay quay. Tuy rằng có các thiết kế khác nhau nhưng các choòng vanđều có chung một đặc tính là để tăng cường lực thuận tiện cho quá trình vận hành van.Ngoài ra còn có các hướng dẫn chung khi sử dụng các choòng van: Đầu tiên ta phải chọn đúng kích cỡ choòng van, đảm bảo rằng choòng van đãgắn chắc vào tay quay để tránh choòng van bị trượt ra ngoài trước khi tác dụnglực. Tiếp theo ta phải có được thế cân bằng khi tác dụng lực vào choòng van. Nếukhông phân phối trọng lượng cơ thể một cách cân bằng có thể ta sẽ bị ngã khivan mở ra một cách quá nhanh. Sau đó ta phải đứng theo hướng kéo choòng van về phía bản thân chứ khôngđẩy nó ra phía ngoài, việc này tránh cho bản thân bị ngã khi mở van qúa nhanhvà tránh ảnh hưởng tới những người xung quanh. Không được áp dụng lực quá lớn khi vận hành van bằng choòng van nếu khôngta có thể làm gãy tay quay hoặc cần van ngoài ra nó còn ảnh hưởng tới các vònglàm kín và cửa van.Ngoài ra còn có nhiều loại van đòi hỏi phải có sự bôi trơn định kỳ.
  41. 41. Giáo trình Van công nghiệp41/56Ở loại van có cần van chuyển động, bụi hay các vật chất khác có thể bám vào phần rencủa cần van lộ ra ngoài làm cho khó khăn trong việc vận hành và mài mòn cần van. Dovậy phải giữ sạch và bôi trơn phần ren của cần van lộ ra ngoài. Trong một số loại vanđòi hỏi phải bôi trơn ở cả phía trong.Các van loại này thường có lỗ nạp dầu hoặc mỡ bôi trơn. Đối với các van nút chất bôitrơn còn có tác dụng như một màng làm kín giữa cửa van và thân van. Những loại vannày đòi hỏi phải bôi trơn thường xuyên. Một số loại van cần phải có loại dầu mỡ bôitrơn riêng biệt.Tất cả các van thiết kế có cần van đều có khoang làm kín, vật liệu bịt kín được nhồi đầytrong khoang này. Mỗi khoang làm kín đều có vật liệu bịt kín theo kích cỡ riêng của nó.
  42. 42. Giáo trình Van công nghiệp42/56Vật liệu bịt kín được lắp đặt theo dạng hình tròn bao quanh cần van. Vật liệu bịt kínđược nén lại bởi nắp của khoang làm kín. Mục đích của việc sử dụng vật liệu làm kín làđể ngăn ngừa rò rỉ quanh cần van. Sự rò rỉ được điều chỉnh bằng việc siết chặt nắpkhoang làm kín để tăng độ nén trên vật liệu bịt kín. Nếu như sự rò rỉ vẫn xẩy ra thì taphải tiến hành thay vật liệu bịt kín.Ngoài ra van còn có thể bị rò rỉ ở những vị trí khác trong khi vận hành như: Rò rỉ giữamối nối của thân van và nắp trên của van, rò ở mối nối giữa thân van và đường ống.Thông thuờng những rò rỉ nảy được bằng việc siết chặt các bu lông nếu là mối nối bằngmặt bích. Nếu vẫn tiếp tục bị rò rỉ thì ta phải tiến hành thay gioăng đệm hoặc kiểm tralại mặt bích.11. VAN ĐIỀU KHIỂN (CONTROL VALVES):
  43. 43. Giáo trình Van công nghiệp43/56Là loại van tự động điều chỉnh vị trí cửa van thông qua thiết bị điều khiển. Nhiều loạivan điều khiển bằng tay có thể lắp đặt thêm cơ cấu dẫn động vào thân van để trởthành van điều khiển.Cơ cấu dẫn động là một thiết bị dùng trong van điều khiển để dẫn động cần van ứngvới tín hiệu phát ra từ thiết bị điều khiển.
  44. 44. Giáo trình Van công nghiệp44/56Thiết bị điều khiển là thiết bị tự động điều chỉnh vị trí của van điều khiển. Thiết bị điềukhiển sử dụng năng lượng không khí nén, áp suất thủy lực hay năng lượng điện đểtruyền tín hiệu tới cơ cấu dẫn động. Cơ cấu định vị là thiết bị trợ giúp cho cơ cấu dẫnđộng di chuyển cần van vào đúng vị trí.Van điều khiển được sử dụng tại những vị trí đòi hỏi phải có sự điêu khiển tự động.Phần thân van của loại van điều khiển này tương tự như van bướm, nhưng cần vanchuyển động nhờ cơ cấu dẫn động thay cho tay quay và thang chỉ vị trí. Cơ cấu dẫnđộng nhận các tín hiệu điều khiển từ thiết bị điều khiển. Những tín hiệu này sẽ tự độnglàm thay đổi vị trí cửa van.Các kiểu thân vanThân của van điều khiển có thể được thiết kế theo kiểu có một hoặc hai cửa dẫn vậtchất đi qua.Hình vẽ trên mô tả loại thân có một cửa. Loại này thường được sử dụng nhiều vì chúngrẻ tiền, ít phải bảo dưỡng và mức độ rò rỉ thấp hơn. Nhưng loại này cũng có nhượcđiểm là áp suất của dòng chỉ tác động vào một mặt cửa van gây khó khăn cho định vị.Van hai cửa có ưu điểm là lưu lượng dòng chảy qua van lớn hơn loại một cửa nếu nhưcó cùng kích cỡ. Loại van hai cửa cân bằng được áp suất tác dụng lên hai hướng do đóviệc định vị nó dễ dàng hơn loại một cửa. Vì đặc tính này nên van hai cửa rất phù hợpcho việc điều tiết dòng chảy.
  45. 45. Giáo trình Van công nghiệp45/56Cơ cấu dẫn động bằng khíHình vẽ mô tả một van điều khiển có cơ cấu dẫn động bằng khí.Trong cơ cấu dẫn động có một màng ngăn kín khí và một lò xo. Cơ cấu dẫn động nhậnkhí nén hay tín hiệu từ thiết bị điều khiển. Trong loại van này có cơ cấu dẫn động sửdụng khí nén để di chuyển cần van điều khiển.Không khí nén được đưa vào phía trên màng ngăn, vì thế áp lực của khí nén sẽ đẩymàng ngăn xuống và ngược lại lò xo luôn có xu hướng đẩy màng ngăn lên. Khi áp suấtcủa không khí thắng lực đẩy lên của lò xo thì cần van sẽ bị đẩy xuống và van đóng lại.Loại van này còn được gọi là van mở bằng không khí nén (Air-to-close) vì khi tăng ápsuất không khí nén trên màng ngăn sẽ làm cho van đóng lại.
  46. 46. Giáo trình Van công nghiệp46/56Hình vẽ mô tả lọai van điều khiển dùng khí nén để mở van (Air-to-open).Khi tăng áp suất không khí trên màng ngăn thì cơ cấu dẫn động sẽ di chuyển cần vanxuống vị trí mở.Một dạng thiết kế khác của van điều khiển.
  47. 47. Giáo trình Van công nghiệp47/56Đường dẫn không khí vào được bố trí ở phía dưới màng ngăn. Kiểu thiết kế này sửdụng khí nén để đóng van. Điều quan trọng đối với công nhân vận hành là phải biếtđược khi tăng áp suất của không khí trên màng ngăn sẽ làm cho van di chuyển về vị trímở hay vị trí đóng và điều đó cũng có nghĩa là phải biết được khi hỏng van sẽ ở vị tríđóng hay mở.Nếu van sử dụng khí nén để di chuyển về vị trí mở thì khi tăng áp suất không khí trongcơ cấu dẫn động sẽ làm cho van dịch chuyển về vị trí mở, còn nếu như mất nguồn cungcấp khí nén vào cơ cấu dẫn động thì van sẽ ở vị trí đóng. Đối với van dùng áp suất củakhí nén để đóng thì khi mất nguồn khí nén nó sẽ ở vị trí mở.Cơ cấu định vị của van (Valve Positioner)Đôi khi tín hiệu không khí nén từ thiết bị điều khiển không đủ để vận hành van mộtcách nhanh chóng hoặc giữ van ở vị trí mong muốn. Trong những trường hợp này, vanđược nối với cơ cấu định vị để trợ giúp cho cơ cấu dẫn động di chuyển hay giữ cần vanở đúng vị trí.Cơ cấu định vị giữ vai trò như một bộ khuếch đại trung gian để trợ giúp cho cơ cấu dẫnđộng khi nhận được tín hiệu khí từ thiết bị điều khiển.Cơ cấu dẫn động bằng điện (Electrical Actuator)
  48. 48. Giáo trình Van công nghiệp48/56Hình vẽ mô tả một van được điều khiển bằng dòng điện.Một vài cơ cấu dẫn động sử dụng năng lượng điện để định vị cho van điều khiển. Cơcấu dẫn động của loại van này hoạt động như một van điện. Van điện bao gồm một lõisắt trượt trong quận dây hình ống. Khi có dòng điện đi qua quận dây thì một từ trườngđiện được thiết lập nên ở phía trong quận dây. Từ trường điện này sẽ kéo lõi sắt vàophía trong quận dây hình ống. Khi ngắt dòng điện thì từ trường điện sẽ biến mất và lõisắt bị đẩy lại vị trí cũ bằng lực của lò xo.Lõi sắt của van điện được nối với cần van. Tín hiệu điện từ thiết bị điều khiển sẽ thiếtlập nên từ trường điện trong quận dây để kéo lõi sắt lên và van được đóng lại. Khikhông có dòng điện đi qua thì lõi sắt bị đẩy về vị trí cũ bằng lực của lò xo và van mở ra.Vì vậy thiết kế của van theo loại này chỉ sử dụng đóng hoặc mở dòng chảy chứ khôngdùng được vào mục đích điều tiết.Nếu như muốn điều tiết dòng chảy thì có thể dùng cơ cấu dẫn động được vận hànhbằng motor. Motor được nối với cần van qua hệ thống giảm tốc bằng bánh răng.Motor này là loại có thể chuyển động ngược được, do đó nó có thể di chuyển van theomọi vị trí mong muốn. Nếu như van bị hỏng vì bất kỳ lý do nào nó cũng đều có thểđược định vị lại bằng tay quay.
  49. 49. Giáo trình Van công nghiệp49/56Cơ cấu dẫn động bằng thủy lực (Hydraulic Actuator)Áp suất của chất lỏng đôi khi cũng được dùng để vận hành van. Vì chất lỏng khônggiảm thể tích khi bị nén nên nó không thể di chuyển vị trí của van nhanh bằng khí nén.Hãy xem hình vẽ của một cơ cấu dẫn động bằng thủy lực đơn giản dưới đây.Dòng chất lỏng có thể được dẫn vào một trong hai khoang. Giả sử như nó được dẫnvào khoang thứ nhất. Khi đó áp suất thủy lực sẽ di chuyển vị trí của cửa van sang vị tríbên phải có nghĩa là vào vị trí đóng.Còn khi chất lỏng được dẫn vào khoang thứ hai thì sẽ có chuyển động ngược lại cónghĩa là cửa van di chuyển về phía trái và van ở vị trí mở. Van được điều khiển bằng hệthống thủy lực có thể được thiết kế vào mục đích điều tiết nhưng thông thường đối vớicác van lớn chỉ dùng vào mục đích đóng mở dòng chảy vì nó đòi hỏi một lực lớn đểđóng và mở van.
  50. 50. Giáo trình Van công nghiệp50/56
  51. 51. Giáo trình Van công nghiệp51/56
  52. 52. Giáo trình Van công nghiệp52/56
  53. 53. Giáo trình Van công nghiệp53/56
  54. 54. Giáo trình Van công nghiệp54/56
  55. 55. Giáo trình Van công nghiệp55/5612. XỬ LÝ SỰ CỐ:Đa số các công nhân vận hành không có khả năng sửa chữa các hư hỏng của van nhưng họphải xác định được nguyên nhân hư hỏng để báo cho đội sửa chữa biết. Điều này đòi hỏi họphải có kỹ năng trong việc phát hiện ra các nguyên nhân gây ra hư hỏng.Các hỏng hóc ở van vận hành bằng tay thường dễ dàng xác định được như gãy tay quay, trậtkhớp ren. Nếu như các cơ cấu này vẫn họat động tốt mà ta vẫn không thể đóng hay mở vanđược thì có nghĩa là đã hư hỏng ở phần trong van.Đối với van một chiều thường không có các hư hỏng ở phía ngòai. Do vậy khi van một chiềukhông ngăn được dòng chảy ngược trở lại có nghĩa là van đã hóc ở phía trong.Đối với các van điều khiển thì thường khó khăn hơn trong việc xác định các nguyên nhân hưhỏng. Nếu như van điều khiển bị hư hỏng thì việc đầu tiên là phải kiểm tra tín hiệu từ thiết bịđiều khiển truyền tới cơ cấu dẫn động, nếu như tín hiệu vẫn đúng thì nguyên nhân gây ra hưhỏng có thể ở thiết bị điều khiển.Đôi khi các tín hiệu từ thiết bị điều khiển tới cơ cấu dẫn động bị rối lọan do rò rỉ, tắc ở giữađường nối giữa hai thành phần này. Vì vậy ta nói rằng van điều khiển có thể bị hư hỏng tronghệ thống truyền tín hiệu. Hầu hết các van điều khiển có gắn bộ phận xác định vị trí của van.Khi nhìn vào bộ phận xác định vị trí van ta có thế biết được vị trí của van. Giả sử như thiết bịđiều khiển đang truyền tín hiệu để đóng van nhưng ta vẩn nghe thấy tiếng của dòng chảy điqua van, nếu bộ phận xác định vị trí chỉ van đã ở vị trí đóng thì ta có thể biết được là hư hỏngxẩy ra ở phía trong thân van.Điều này cũng có thể xác định được là van bị tắc hay vòng làm kín đã bị mài mòi qúa nhiều.Nhưng nếu bộ phận xác định vị trí chỉ van ở vị trí mở thì hư hỏng có thể ở những bộ phậnkhác nhau ví dụ như cần van có thể bị kẹt ở nắp khoang bịt kín nên van không thể đóng lạiđược. Một khả năng nữa là cơ cấu dẫn động không là việc một cách hoàn hảo, nếu như màng
  56. 56. Giáo trình Van công nghiệp56/56ngăn trong cơ cấu dẫn động bằng khí bị rách hay bị thủng thì nó sẽ không hoạt động khi có sựthay đổi áp suất khí nén. Trong cơ cấu dẫn động bằng điện và bằng motor thì việc quận dây bịcháy cũng là một nguyên nhân gây hư hỏng cơ cấu dẫn động. Các trục trặc đối với cơ cấu dẫnđộng bằng thủy lực thường là chất lỏng bị rò rỉ, piston bị kẹt trong xilanh hay piston bị thủng.Nếu như van có cơ cấu định vị để trợ giúp cho sự di chuyển của cần van thì ta phải kiểm tra cảthiết bị này. Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra các tín hiệu đầu vào và đầu ra củacơ cấu định vị. Đối với van điều khiển khi bị hư hỏng ta thường bắt đầu kiểm tra ở thiết bịđiều khiển rồi sau đó xuống những phần phía dưới của van.Tóm lại Tất cả các van điều khiển đều có cơ cấu dẫn động nối với thân van. Cơ cấu dẫn động sẽ di chuyển cần van phù hợp với các tín hiệu phát ra từ thiết bị điềukhiển. Thiết bị trợ giúp cho cơ cấu dẫn động di chuyển hay giữ van ở đúng vị trí được gọi là cơcấu định vị. Các cơ cấu dẫn động bằng khí sử dụng khí nén để điều khiển van. Cơ cấu dẫn động bằng dòng điện có hai lọai là van điện và motor. Các cơ cấu dẫn động bằng thủy lực thường được sử dụng đối với các van lớn.

×