Ce diaporama a bien été signalé.
Nous utilisons votre profil LinkedIn et vos données d’activité pour vous proposer des publicités personnalisées et pertinentes. Vous pouvez changer vos préférences de publicités à tout moment.
1
Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ ChíMinh
Trường Đại Học Khoa Học XãHội & Nhân Văn
Phân tích hoạt động công nghiệp & nông ng...
2
Mục Lục
Phần 1: Công nghiệp··························································3
 Hoạt động công nghiệp tác động ...
3
Phần 1: Công Nghiệp
Hiện nay, chất thải công nghiệp đang gây ô nhiễm không khí, đất vànguồn nước trên nhiều khu
vực rộng...
4
SO2... Các khínày rất độc hại với con người vàgây ra hiệu ứng nhà kính, làm cho trái đất nóng
lên.
Nước thải công nghiệp...
5
Các nhà máy dùng dầu F.O làm nhiên liệu chủ yếu tập trung ở phía nam như Thủ đức - Cần thơ -
Hiệp phước. Nguồn khí thải ...
6
 Giải pháp:
Hiện nay, pin năng lượng mặt trời đang dần được sử dụng để thay thế nguồn năng lượng trước
đây, bởi ngày na...
7
Phần 2: Nông Nghiệp
Nhu cầu xãhội ngày càng phát triển cao đòi hỏi con người ngày càng sử dụng nhiều biện pháp
khác nhau...
8
- Chặt phárừng, mở rộng diện tích canh tác gây suy thoái nguồn nước ngầm, làm mất dần vàcó
nguy cơ tuyệt chủng nhiều loà...
9
phía Nam đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long, phân tươi được coi lànguồn thức ăn cho cá.
Tập quán sử dụng phân tươi, n...
10
để, biến rơm rạ sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ vi sinh giàu dinh dưỡng để rải lại trên cánh
đồng, cày vùi vào đất ...
Prochain SlideShare
Chargement dans…5
×

Phân tích hoạt động công nghiệp & nông nghiệp tác động đến môi trường

22 055 vues

Publié le

Môi trường & Phát triển

Publié dans : Formation
  • Identifiez-vous pour voir les commentaires

Phân tích hoạt động công nghiệp & nông nghiệp tác động đến môi trường

  1. 1. 1 Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ ChíMinh Trường Đại Học Khoa Học XãHội & Nhân Văn Phân tích hoạt động công nghiệp & nông nghiệp tác động đến môi trường (Môi Trường & Phát Triển) Tên: Lâm Đức Chí Lớp: CK17.01 2015
  2. 2. 2 Mục Lục Phần 1: Công nghiệp··························································3  Hoạt động công nghiệp tác động tích cực đến môi trường  Hoạt động công nghiệp tác động tiêu cực đến môi trường  Vídụ tham khảo  Giải pháp Phần 2: Nông nghiệp··························································7  Hoạt động nông nghiệp tác động tích cực đến môi trường  Hoạt động nông nghiệp tác động tiêu cực đến môi trường  Vídụ tham khảo  Giải pháp
  3. 3. 3 Phần 1: Công Nghiệp Hiện nay, chất thải công nghiệp đang gây ô nhiễm không khí, đất vànguồn nước trên nhiều khu vực rộng lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vàsức khỏe của con người. Trong đó, công nghiệp hóa chất, ngành khai thác vàchế biến than, ngành nhiệt điện, ngành sản xuất thép,… là những ngành màchất thải đều rất độc hại, gây nguy hiểm cho môi trường tự nhiên và con người không chỉ trong hiện tại màcòn ảnh hưởng đến lâu dài. Ở Việt Nam điều này càng nguy hại khi các công ty nhà máy chưa có hệ thống xử lýchất khí trước khi xả thải ra môi trường. Do đó, việc tìm ra các giải pháp nhằm giảm thiểu ônhiễm không khítrong công nghiệp lànhiệm vụ rất cần thiết. Tuy nhiên bên cạnh những tác động tiêu cực, ngành công nghiệp cũng có những tác động tích cực đến môi trường chúng ta.  Hoạt động công nghiệp tác động tích cực đến môi trường Nền công nghiệp ở nước ta ngày ngày càng phát triển tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội. Các khu công nghiệp, các nhà máy mọc lên với số lượng nhiều, qui mô lớn, đã góp phần làm thay đổi cả bộ mặt xã hội và môi trường vớ i 1 số điểm tích cực sau: Thứ nhất, trong chừng mực nhất định, hoạt động công nghiệp của doanh nghiệp chẳng hạn như hoạt động du lịch có thể việc xây dựng các công viên vui chơi giải trí, công viên cây xanh, hồ nước nhân tạo, các làng văn hóa du lịch... có thể tạo nên môi trường mới hay góp phần cải thiện môi trường. Thứ hai, hoạt động công nghiệp của doanh nghiệp tạo điều kiện vật chất cho việc thực hiện các hoạt động động bảo vệ môi trường. Hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra nguồn đóng góp cho ngân sách nhà nước, là một nguồn tài chính quan trọng cho hoạt động bảo vệ môi trường. Một số lĩnh vực kinh doanh, như hoạt động nhập khẩu và sản xuất thiết bị phục vụ công tác bảo vệ môi trường, có tác động tích cực cho việc giải quyết các vấn đề môi trường. Ví dụ như sự phát triển của công nghệ sinh học và gia tăng thương mại các sảm phẩm của nó sẽ góp phần tích cực giúp làm giảm áp lực lên khai thác và sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên. Thứ ba, việc phát triển ngành công nghiệp tái chế chất thải góp phần cải thiện chất lượng môi trường và giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải.  Hoạt động công nghiệp tác động tiêu cực đến môi trường: Trong quátrình công nghiệp hóa vàhiện đại hóa, cùng với sự phát triển kinh tế - xãhội, các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ các đô thị ngày càng cónhiều nhàmáy, khu công nghiệp tập trung được xây dựng, đưa vào hoạt động vàđã xả thải vào môi trường nước và môi trường không khímột lượng rất lớn các chất thải rắn, nước và khí làm cho môi trường nước vàkhông khíbị ô nhiễm nghiêm trọng với nhiều dạng ônhiễm khác nhau. Tác động lớn nhất tới môi trường không khílàcác nhàmáy và cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp sử dụng nhiên liệu than đá, dầu mỏ khí đốt, củi gỗ vànạn cháy rừng, đốt rừng làm nông nghiệp, sự hoạt động của các phương tiện giao thông vận tải đã xả thải vào bầu khíquyển một lượng rất lớn khíCO2, Co,
  4. 4. 4 SO2... Các khínày rất độc hại với con người vàgây ra hiệu ứng nhà kính, làm cho trái đất nóng lên. Nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt vàcả nước thải bãi rác nhất làtrong rác thải công nghiệp cónhiều hóa chất độc hại, thải vào môi trường đã gây ônhiễm môi trường nước một cách nghiêm trọng. Các tác nhân gây ônhiễm môi trường trong ngành công nghiệp gồm: - Chất thải công nghiệp dưới dạng chất thải rắn, lỏng và khí đều có ảnh hưởng đến môi trường sinh thái đất. - Dạng khí có CO2, CO, NO, NO2, CH4, H2S… từ trong quá trình đốt nhiên liệu… - Dạng chất lỏng có các acid hữu cơ, nước, xà phòng, dầu mỡ..,. Dạng rắn có các chất thải trong công nghiệp. - Các ống khói của các nhà máy trong quá trình sản xuất do đốt nhiên liệu đã thải vào môi trường các chất khí như: SO2, CO2, CO,..., bụi và các khí độc hại khác. - Các chất khí bị bốc hơi, rò rỉ thất thoát trong dây chuyền sản xuất, trên các đường dẫn. - Các chất phóng cạ từ các quá trình khai thác, chế biến quặng; sử dụng các chất phóng xạ đã tinh luyện cà do bụi phóng xạ từ các vụ thử hạt nhân. - Nước thải có nhiệt độ cao từ các quá trình làm lạnh trong công nghiệp làm cho nhiệt độ bcủa nước tại lưu vực tiếp nhận tăng lên. - Đặc điểm của chất thải công nghiệp là có nồng độ chất độc hại cao và tập trung. Đặc biệt là các ngành công nghiệp năng lượng, công nghiệp dầu khí, công nghiệp hoá chất, công nghiệp luyện kim, công nghiệp cơ khí, công nghiệp vật liệu xây dựng … gây ô nhiễm chính cho môi trường. Ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường không khí, thường chủ yếu tập trung tại các KCN cũ, do các KCN này đang sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lýkhíthải trước khi thải ra môi trường. Ô nhiễm không khítại các KCN chủ yếu làbụi, một số KCN cóbiểu hiện ônhiễm CO2, SO2 vàtiếng ồn. Khi hoạt động của công nghiệp tăng cao sẽ kéo theo việc tăng chất thải vào môi trường khí. Khi lượng chất thải đủ nhiều để phá vỡ chu trình cân bằng vật chất của môi trường, làm cho môi trường bị ô nhiễm.  Vídụ tham khảo: Ngành Công nghiệp năng lượng với 3 ngành chính: Điện - Than - Dầu khí  Ngành điện: ngành điện của nước ta có cơ cấu các nhà máy phát điện là: - Thủy điện 66% là ngành không gây ô nhiễm môi trường khí nhưng tiềm ẩn khả năng biến đổi môi trường - sinh thái vùng hồ chứa nước và thủy vực vùng hạ lưu. -Nhiệt điện: 21% -Tuabin khí và điezen: 13% Các nhà máy nhiệt điện dùng than làm nhiên liệu có lượng tiêu hao than từ 0,4 đến 0,8 kg/kwh. Nguồn cung cấp than là các mỏ than vùng đông bắc. Theo TS Phạm Ngọc Đăng: năm 1993 các nhàmáy tiêu thụ gần 480.000 tấn than và thải ra khí quyển 6.713 tấn khí SO2; 2.724 tấn NOx; 277,9 × 103 tấn CO2 và 1491 tấn bụi. Đây là nguồn gây ô nhiễm rất lớn nhưng việc khắc phục còn rất khó khăn và tốn kém.
  5. 5. 5 Các nhà máy dùng dầu F.O làm nhiên liệu chủ yếu tập trung ở phía nam như Thủ đức - Cần thơ - Hiệp phước. Nguồn khí thải chủ yếu là CO và SOx do trong dầu F.O hàm lượng lưu huỳnh rất cao (tới 3%). Với các nhà máy dùng khí làm nhiên liệu thì nguồn gây ô nhiễm không khí chỉ là CO2, NO2.  Ngành khai thác than: Ngành khai thác than ít có nguy cơ trực tiếp gây ô nhiễm không khí, có chăng chỉ có nguồn phát sinh bụi từ các tuyến vận chuyển, phân loại than mà thôi. Ngành này tiềm ẩn khả năng làm biến đổi môi trường - sinh thái vùng khai thác do cây cối bị triệt phá, đất đá bị đào xới…  Ngành khai thác dầu khí: Nguồn phát thải chất ô nhiễm là việc đốt bỏ khí đồng hành và những sự cố dò rỉ khí đốt trên các tuyến vận chuyển, sử dụng. Ngành Công nghiệp hóa chất:  Hóa chất cơ bản: chúng ta ít có nhà máy sản xuất hóa chất cơ bản lớn , nhất là ở khu vực phía nam. Nhưng có một số nhà máy công nghiệp khác có theo dây chuyền sản xuất hóa chất xút - clo trên cơ sở điện phân muối ăn. Tại những cơ sở này, hơi Clo được thải bỏ tự do vào không khí là một nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Tùy theo các dạng sản phẩm làm ra mà các cơ sở sản xuất hóa chất cơ bản có chất thải làm ô nhiễm môi trường khí. Ví dụ: SO2 từ công nghệ sản xuất acide sunfuric; clo từ công nghệ điện phân muối ăn.  Phân hóa học: nguồn ô nhiễm lớn nhất tại các nhà máy phân hóa học là bụi, sau đó là hơi SO2 và fluo nếu là dây chuyền sản xuất super lân, hay NH3, CO2 nếu là sản xuất phân đạm.  Thuốc trừ sâu: các nhà máy thuốc trừ sâu ở nước ta có hai dạng chính là thuốc trừ sâu dạng lỏng và rắn. Ở các nhóm clo hữu cơ và lân hữu cơ là loại có độc tính cao. Trong quá trình pha chế, đóng gói thành phẩm, có hơi thuốc trừ sâu bay hơi vào không khí gây ô nhiễm môi trường khí. Ngoài ra phải kể tới bụi ở các dây chuyền sản xuất thuốc bột và hột bay vào môi trường không khí. Tuy khối lượng không nhiều nhưng khí thải của các xí nghiệp này rất độc hại nên cần đặc biệt chú ý. Ngành công nghiệp luyện kim: Cả nước chỉ có một nhà máy luyện gang từ quặng sắt ở Thái nguyên, nhà máy này vừa luyện gang và luyện cốc, khí thải của nhà máy chứa nhiều CO, CO2, CyHx, SOx, NH3 và bụi… Thường gặp nhất là lò luyện thép Hồ quang ở cả miền nam và miền bắc. Khi hoạt động, lò luyện thường làm ô nhiễm khu xung quanh vì khói bụi của quá trình sản xuất. Trong khí thải của lò, lượng CO cho tới 15% – 20% (thể tích); H2 chiếm 0.5% - 35%.Tải lượng bụi trung bình tính theo thành phẩm là 6-9Kg/tấn thép hay 3~10g/m3 khí thải. Thành phần chủ yếu của bụi là oxýt sắt, ngoài ra còn có oxít măng gan, canxi, ma nhê… Đây đang là nguồn gây ô nhiễm đáng kể nhất ở các khu công nghiệp, chưa kể tới trong các nhà máy này còn có các lò nung đốt dầu FO thải ra môi trường các loại khí độc hại đặc trưng. Các loại lò này thường dùng dầu FO và than đá làm nhiên liệu,nấu lại kim loại và phế liệu nên khói thải của các cơ sở thường làm ô nhiễm khu vực xung quanh.
  6. 6. 6  Giải pháp: Hiện nay, pin năng lượng mặt trời đang dần được sử dụng để thay thế nguồn năng lượng trước đây, bởi ngày nay pin năng lượng được cho lànguồn năng lượng xanh, sạch vàbảo vệ môi trường. Từ những ứng dụng nhỏ đến ứng dụng lớn, pin năng lượng được nghiên cứu sử dụng: Đối với hộ gia đình và nhà xưởng Pin năng lượng mặt trời dùng để lắp hệ thống và sinh hoạt trong gia đình (chiếu sáng, quạt mát, bơm nước, tủ lạnh, máy giặt, tivi, nấu cơm điện..) , công trình, nhà xưởng, sạc điện thoại dự phòng khi hết pin, đi thuyền, tàu. Đối với phương tiện đi lại Đường bộ: Pin năng lượng mặt trời dùng để chạy xe đạp và mới ra đời một chiếc xe 4 bánh tên làStella Lux – pin năng lượng mặt trời, chiếc xe có ngoại hình thon dài, vật liệu chế tạo gồm sợi carbon và nhôm giúp xe có trọng lượng 375 kg nhẹ hơn các xe ô tô thông thường, xe có sức chứa cho 4 người khi hoạt động. Đường sông Tháng 6 vừa qua 4 nông dân ở tỉnh Đồng Tháp đã chế tạo thành công thuyền năng lượng mặt trời, chiếc thuyền chạy bằng năng lượng mặt trời thay xăng nhiên liệu, bớt tốn kém và bảo vệ môi trường. Đường hàng không: Phát minh máy bay năng lượng mặt trời Solar Impulse 2 được xem là phương tiện bay tạo được hiểu ứng trong cộng đồng, hiện nay Solar Impulse 2 đã hoàn thành chặng đường bay 13 vượt Thái Bình Dương. (Nguồn: http://nangluongtieudiem.com/ung-dung-nang-luong-mat-troi-trong-doi-song/)
  7. 7. 7 Phần 2: Nông Nghiệp Nhu cầu xãhội ngày càng phát triển cao đòi hỏi con người ngày càng sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để tăng năng suất sản lượng sản phẩm. Những hoạt động nhằm mục đích kinh tế của con người là nguyên nhân cơ bản làm tác động đến môi trường. Việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp nhiều vàkhông hợp lý đã làm cho môi trường ngày càng xấu đi, tuy nhiên bên cạnh đó hoạt động nông nghiệp cũng mang lại những tác động tốt đến môi trường  Hoạt động nông nghiệp tác động tích cực đến môi trường: Sử dụng phân bón hoáhọc vàhợp chất bảo vệ thực vật làchìa khoáthành công của cuộc cách mạng xanh, trong nền nông nghiệp, công nghiệp hoá(nông nghiệp đầu tư cao) để đảm bảo nhu cầu về lương thực, thực phẩm. Việc sử dụng phân bón hóa học, chất hữu cơ và vô cơ, và thuốc trừ sâu ...cho thấy các tác động tích cực về kinh tế và môi trường, giúp cho nông dân, đặc biệt nông dân ở các nước đang phát triển tăng năng suất cây trồng, ít sâu bệnh, đất đai phì nhiêu vàgiúp cải thiện môi trường sống tốt hơn cho các loại cây trồng Những hoạt động trồng trọt chăn nuôi, khai hoang rừng lấy đất canh tác mang lại nhiều tác động tích cực đến môi trường như tích lũy được nhiều giống cây trồng, vật nuôi, mở rộng vàphát triển những khu vực phùhợp trồng những loại ăn trái khác nhau.  Hoạt động nông nghiệp tác động tiêu cực đến môi trường: Những năm gần đây có nhiều dấu hiệu đáng lo ngại do sự ảnh hưởng của phân bón hoá học, hoá chất bảo vệ thực vật đến môi trường và sức khoẻ con người. Vấn đề này không chỉ xảy ra ở các nước phát triển mà nó đang ngày trở lên nghiêm trọng ở các nước đang phát triển. Khi người nông dân áp dụng những công nghệ hiện đại (như giống mới, phân hoá học, hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV), máy móc, thiết bị tưới tiêu....) Đã nảy sinh rất nhiều vấn đề môi trường: - Gây độc hại cho nguồn nước, cho đất bởi thuốc trừ sâu, N03-, do đó tác động xấu đến sức khoẻ con người, động vật hoang dại vàsuy thoái các hệ sinh thái. - Gây nhiễm độc lương thực, thực phẩm thức ăn cho gia súc bởi dư lượng thuốc trừ sâu, NO3 - và chất kích thích sinh trưởng. - Gây xói mòn đất, giảm độ phìcủa đất do xu hướng sử dụng nhiều phân bón hoáhọc thay cho phân hữu cơ. - Gây mặn hoáthứ sinh do tưới tiêu không hợp lý. - Gây ônhiễm không khído sự khuyếch tán của HCBVTV.
  8. 8. 8 - Chặt phárừng, mở rộng diện tích canh tác gây suy thoái nguồn nước ngầm, làm mất dần vàcó nguy cơ tuyệt chủng nhiều loài động vật hoang dã. - Xu thế tiêu chuẩn hoá, chuyên canh hoátập trung vào một số giống cây, con mới đồng nhất về di truyền trong nông nghiệp dẫn đến sự thay thế dần vàbiến mất những giống loài truyền thống – cơ sở di truyền để cải tạo giống lànguồn gen dự trữ quan trọng trong tương lai.  Vídụ tham khảo: Ô nhiễm môi trường từ phân bón hoáhọc dùng trong nông nghiệp: Nitrat (N03 - ) làyếu cần thiết cho sinh trưởng vàphát triển của nhiều loài cây trồng, đồng thời nó cũng được xem làmối đe doạ cho sức khoẻ con người vàtính trong sạch của các nguồn nước tự nhiên. Tính trung bình, khi bón phân đạm vào đất thực vật chỉ hấp thụ được khoảng 50 - 60%, số còn lại đi vào các nguồn khác.. Mặc dùthực vật rất cần nitơ nhưng ion NO3- gần như không bị đất hấp thụ vàluôn tồn tại ở dạng linh động dễ bị rửa trôi vào các nguồn nước. Một nghiên cứu vào năm 1972 ở Anh cho thấy cóhiện tượng phú dưỡng ở cả 18 con sông nghiên cứu. Nhiều kết quả nghiên cứu bằng phương pháp nguyên tử đánh dấu đã khẳng định N-NH4 tronh nước cónguồn gốc từ nitơ bón vào đất. Như vậy nguồn gốc N03- trong nước là do phân bón vô cơ và hữu cơ đậc biệt khi người nông dân bón không đúng lúc, bón thúc vào thời kỳ cây không cần và bón không đều. Việc bón thúc đạm sẽ làm cho hàm lượng nitrat tích lũy trên mặt đất vàlàm giảm chất lượng nước. Khi bón đạm cho cây trồng từ phân khoáng vàphân hữu cơ thì sẽ cómột lượng khíthải đưa vào không khí. Trước hết làkhíNH3 làm ônhiễm môi trường không khí, ngoài ra còn khí NO2 làm ảnh hưởng đến tầng ôzôn, thường số lượng khíN2O sản sinh ra từ phân bón là15%. Ngoài ra, hiện tượng thừa đạm sẽ làm cho bộ phận của cây, nhất là các cơ quan sinh trưởng sẽ phát triển mạnh, tạo thêm nguồn thức ăn cho nhiều loài vi sinh vật gây hại. Đạm thừa làm cho vỏ tế bào cây trở nên mỏng, tạo điều kiện dễ dàng cho một số loài vi sinh vật gây bệnh xâm nhập, kích thích một số loài vi sinh vật trong đất xâm nhập vào rễ vàgây hại cho cây. Sâu bệnh xuất hiện nhiều làm số lần phun thuốc tăng theo cũng làm ô nhiễm môi trường. Các loại phân hóa học do nguồn nguyên liệu vàquátrình sản xuất cókhi chứa các loại kim loại nặng, các kim loại này được cây trồng hấp thụ và tích lũy trong sản phẩm. Người vàgia súc dùng sản phẩm chứa các kim loại này lâu ngày sẽ bị nhiễm độc. Ô nhiễm nỉtat không phải làvấn đề mới, cách đây hàng trăm năm người ta đã ghi nhận nồng độ coa của nótrong các giếng nước ăn nhưng phát hiện mới nhất làNO3- liên quan tới sức khoẻ cộng đồng thể hiện qua 2 loại bệnh: Methaemoglobinaemia: Trèxanh ở trẻ sơ sinh & Ung thư dạ dày ở người lớn. Hiện nay các vùng nông thôn miền Bắc Việt Nam tập quán sử dụng phân bắc vàphân chuồng tươi trong canh tác vẫn còn phổ biến. Chỉ tính riêng trong nội thành HàNội, hàng năm lượng phân bắc thải ra khoảng 550.000 tấn vàchỉ khoảng 1/3 số đó được xử lý. ở các vùng nông thôn
  9. 9. 9 phía Nam đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long, phân tươi được coi lànguồn thức ăn cho cá. Tập quán sử dụng phân tươi, nước thải bón, tưới trực tiếp cho đất đã gây ô nhiễm sinh học nghiêm trọng cho môi trường đất, không khí, nước, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Ô nhiễm môi trường do sử dụng HCBVTV trong nông nghiệp: Việc sử dụng HCBVTV trong nông nghiệp đã làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường. Định hướng của thuốc trừ sâu làdiệt sâu hại, nhưng diễn biến thực tế của lại ảnh hưởng độc tới đất, nước, không khí, đại dương và các sản phẩm nông nghiệp, động vật sức khoẻ con người đặc biệt những dư lượng của những chất do tính độc cao như chlordane, DDT, picloram, zimazine... Hầu hết các loại HCBVTV đều độc đối với người và động vật máu nóng, tuy nhiên mức độ gây độc của mỗi loại thuốc cókhác nhau, cóloại thuốc gây độc cấp tính, cóloại thuốc cótính tích luỹ lâu trong cơ thể sống, bền vững trong môi trường. Các kết quả nghiên cứu cho thấy có đến 90% HCBVTV không đạt mục đích mà gây nhiễm độc đất, nước, nông sản. Theo kết quả báo cáo của viện bảo vệ thực vật năm 1999, hiện nay trên thị trường Việt Nam có 270 loại thuốc diệt côn trùng, 216 loại thuốc diệt nấm, 160 loại thuốc diệt cỏ, 12 loại thuốc diệt gậm nhấm và26 loại thuốc kích thích sinh trưởng. Điều đáng là 60% tổng số hoáchất trên được sử dụng phun cho rau quả màphần lớn nông dân lại không hiểu đầy đủ về tác dụng, tính năng của mỗi loại thuốc cho nên họ thường phun sai chủng loại, liều lượng cũng như thời gian cho phép.  Giải pháp: Hiện nay córất nhiều giải pháp mới cho việc bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng dụng chế phẩm sinh học vào sản xuất nông nghiệp làxu hướng đang phát triển mạnh hiện nay, trong đó chế phẩm nấm Trichoderma làmột trong các tác nhân mang lại hiệu quả thiết thực cho cây trồng. Sử dụng chế phẩm này, nông dân cóthể tiết kiệm được chi phísản xuất, thời gian vàbảo vệ môi trường. Sau khi thu hoạch lúa, một lượng lớn rơm rạ được bỏ ra trên đồng ruộng, trở thành chất thải và cần phải xử lý. Để chuẩn bị đất cho vụ mùa gieo trồng mới, nông dân thường dùng biện pháp đốt đồng để xử lýrơm rạ. Việc đốt một lượng lớn rơm rạ sẽ làm đất bị mất đi chất dinh dưỡng vàkhí thải ảnh hưởng đến môi trường. Vìvậy, để xử lýrơm rạ sau thu hoạch hiệu quả thực sự, người dân nên sử dụng chế phẩm sinh học Trichoderma để biến rơm rạ thành phân bón hữu cơ phục vụ sản xuất”. Để cóthể xử lý rơm rạ trả về cho đất, chế phẩm sinh học Trichoderma làchế phẩm được sử dụng chủ yếu trong quátrình làm đất (lúa). Trichoderma được phun trực tiếp vào bề mặt rơm rạ, giúp xử lý nhanh rơm rạ, vừa rẻ tiền vừa hiệu quả. Đây là chế phẩm cónguồn gốc sinh học, thân thiện với môi trường, an toàn cho người sử dụng vàgóp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Qua ghi nhận, phương pháp xử lý rơm rạ bằng chế phẩm sinh học này được tiến hành dựa trên nguyên tắc bổ sung các chủng vi sinh vật phân giải hữu cơ có khả năng phân giải nhanh vàtriệt
  10. 10. 10 để, biến rơm rạ sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ vi sinh giàu dinh dưỡng để rải lại trên cánh đồng, cày vùi vào đất hoặc sử dụng làm chất che phủ cho nhiều loại cây trồng. Phương pháp này vừa giảm lượng khícacbon thải ra môi trường, vừa cóthể tận dụng rơm rạ để mang lại lợi ích kinh tế Bên cạnh đó, chế phẩm sinh học Trichoderma cókhả năng kích thích sự sinh trưởng của cây trồng. Loại nấm này cókhả năng tiết ra đất những chất kích thích giúp rễ cây khỏe hơn và ăn sâu xuống lòng đất, tăng khả năng hút dinh dưỡng, tăng khả năng phòng vệ. Quan trọng hơn hết, Trichoderma cóthể bám vào các đầu rễ cây tạo thành một lớp bảo vệ, giúp rễ cây tránh được sự xâm nhập của các loại nấm bệnh, tăng khả năng ra hoa, thụ phấn, tăng năng suất cây trồng. (Nguồn: http://www.tintucnongnghiep.com/2015/06/hieu-qua-tu-viec-su-dung-nam.html) End

×